Giới thiệu chung
Skip portletPortlet Menu
 
Hệ thống chính trị
Skip portletPortlet Menu
 
Quy hoạch ĐT & PT
Skip portletPortlet Menu
 
Văn hóa - Du lịch
Skip portletPortlet Menu
 
LIÊN KẾT WEBSITE
Skip portletPortlet Menu
 
 
Nhà văn Diễn Châu hiện đại
 
Diễn Châu là mảnh đất giàu truyền thống khoa bảng và văn chương. Ở Nghệ An nói riêng và cả nước nói chung số Nhà văn thành danh trên cả nước là quê hương Diễn Châu khá nhiều.
-->
Nhà văn Diễn Châu hiện đại (15/03/2016 08:38 AM)

NHÀ VĂN DIỄN CHÂU HIỆN ĐẠI

( Những người trong Hội nhà văn Việt Nam) 

                Diễn Châu là mảnh đất giàu truyền thống khoa bảng và văn chương. Ở Nghệ An nói riêng và cả nước nói chung số Nhà văn thành danh trên cả nước là quê hương Diễn Châu khá nhiều.

1.       PHẠM QUỐC CA, nhà thơ (Bút danh khác: Khánh Thi, Đan Tâm)

*Tên khai sinh: Phạm Đình Ca, sinh ngày 5 tháng 3 năm 1952, tại xã Diễn Kỷ, huyện Diễn Châu. Hiện sống ở Đà Lạt. Đảng viên đảng Cộng sản Việt Nam. Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (1997).

* Năm 1970 nhập ngũ, tham gia chiến đấu tại chiến trường miền Đông Nam Bộ. Năm 1977 chuyển ngành học Đại học Tổng hợp Hà Nội, ra trường làm giảng viên Khoa học xã hội và Nhân văn tại Trường Đại học Đà Lạt.

* Tác phẩm đã xuất bản: Tiếng trầm ( thơ, 1987); Chân trời mở hoá (thơ, 1994); Làng trong nỗi nhớ ( thơ, 1996).

* Giải thưởng: Tặng thưởng hạng B của Uỷ ban toàn quốc Liên hiệp các Hội văn học nghệ thuật Việt Nam năm 1995.

2. HOÀNG HỮU CÁC, Nhà văn.

* Tên khai sinh: Hoàng Hữu Các, sinh ngày 13 tháng 9 năm 1946, tại xã Diễn Lộc, huyện Diễn Châu. Hiện nay, viết văn, làm báo tại Hà Nội. Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (1986).

*Hoàng Hữu Các nhiều năm tham gia trong quân ngũ ở quân chủng Phòng không- Không quân, từng làm trợ lý câu lạc bộ sư đoàn, trợ lý văn nghệ quần chủng Phòng không- Không quân.

* Tác phẩm chính đã xuất bản: Trên không yên tĩnh (tiều thuyết, 1982); Ký sự sư đoàn (ký sự, 1984); Câu chuyện không định viết ( tiểu thuyết, 1986).

3. THANH CHÂU, Nhà văn

* Tên khai sinh: Ngô Hoan, sinh ngày 17 tháng 9 năm 1912 tại thành phố Thanh Hoá. Quê gốc: xã Diễn Hồng, huyện Diễn Châu. Nơi ở hiện nay: quận Hai Bà Trung, Hà Nội. Trình độ văn hoá: Trung học (Pháp). Hội viên Hội nhà văn Việt Nam (1957). Mất ngày 8-5-2007.

4. HOÀNG NGỌC HÀ, Nhà văn

* Tên khai sinh: Hoàng Ngọc Hà, sinh ngày 1 tháng 1 năm 1936. Quê gốc: Diễn Cát, Diễn Châu. Nơi ở hiện nay: Số 9, Lý Thường Kiệt, Hà Nội. Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam. Tốt nghiệp Đại học Kinh tế kế hoạch. Hội viên Hội nhà văn Việt Nam (1991).

* Thời còn trẻ Hoàng Ngọc Hà làm cán bộ Đoàn, là Trưởng ban cán sự Đại học, Thường vụ Thành đoàn TNCS Hồ Chí Minh Hà Nội, Phó ban dân vận Thành uỷ. NHà văn đã từng giữ chức vụ Giám đốc Nhà xuất bản Hà Nội. Hiện nay bà là Tổng thư ký Hội nhà văn Hà Nội, Phó chủ tịch kiêm Bí thư đảng đoàn Hội LHVHNT Hà Nội.

* Tác phẩm đã xuất bản: Chuyện tình của người mẹ (tiểu thuyết,1990); Hoàng hôn buồn (tiểu thuyết, 1991); Lệ đắng (tiểu thuyết, 1992); Nắng lạnh (tiểu thuyết, 1992); Hoa nước mắt (tiểu thuyết, 1993); Tia nắng mong manh (tiểu thuyết, 1994); Nỗi buồn lặng im (tiểu thuyết, 1995).

- Nhà văn đã được giải C của tạp chí Tác phẩm mới 1995 (truyện ngắn Chị và em).

5. VÕ THỊ HẢO, Nhà văn

* Tên khai sinh đồng thời là bút danh, sinh ngày 13 tháng 4 năm 1956, tại Diễn Bình, Diễn Châu. Hiện sống ở Hà Nội. Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (1997).

* Võ Thị Hảo tốt nghiệp khoa Văn Đại học Tổng hợp 1977, về làm biên tập rồi Phó ban biên tập Nhà xuất bản Văn hoá dân tộc. Năm 1996 chuyển công tác sang báo Phụ nữ thành phố Hồ Chí Minh. Hiện là trưởng phòng đại diện báo Phụ  nữ thành phố Hồ Chí Minh tại Hà Nội.

* Tác phẩm đã xuất bản: Biển cứu rỗi (truyện ngắn, 1992); Chuông vọng cuối chiều (truyện ngằn, 1994); Truyện ngắn chọn lọc Võ Thị Hảo; Một trăm cái dại đàn ông ( phóng tác 1993); Rừng cười; Giàn thiêu.

- Nhà văn đã được tặng giải nhì tiểu thuyết và truyện ngắn của Nhà xuất bản Hà Nội 1993. Giải thưởng 5 năm Văn học Hà Nội 1990- 1995.

6. CAO XUÂN HẠO, Dịch giả, Nhà ngôn ngữ học.

* Tên khai sinh đồng thời là bút danh, sinh ngày 30 tháng 7 năm 1930 tại Hà Nội. Quê quán: Làng Thịnh Mỹ, xã Diễn Thịnh, huyện Diễn Châu, co giáo sư Cao Xuân Huy. Hiện sống ở thành phố Hồ Chí Minh. Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam.

                * Sau Cách mạng tháng Tám, Cao Xuân Hạo tham gia quân dodọi và hoạt động trên nhiều lĩnh vực khác nhau. Hoà bình lập lại, học Đại học Văn hoá, tốt nghiệp, ở lại dạy Ngôn ngữ tại Đại học tổng hợp Hà Nội. Dịch sách, hiệu đính các sách dịch của nước ngoài và nghiên cứu ngôn ngữ.

                * Tác phẩm dịch đã xuất bản: Người con gái viên đại uý (truyện, 1959); Chiến tranh và Hoà bình ( tiểu thuyết, 1962); Chuyện núi đồi và thảo nguyên ( truyện ngắn, 1963); Trên những nẻo đường chiến tranh (tiểu thuyết, 1964); Truyện ngắn Goócki ( 1966); Con đường đau khổ (tiểu thuyết, 1973); Tội ác và trừng phạt ( tiểu thuyết, 1983); Đèn không hắt bóng (1986); Papillon(1988); Khải hoàn môn (1988).

                - Nhà văn đã được nhận giải thưởng về dịch thuật 1985 của Hội Nhà văn Việt Nam.

                Là nhà ngôn ngữ học, Cao Xuân Hạo đã cho ra đời các tác phẩm : “Sổ tay sửa lỗi hành văn” (Viết chung với Trần Thị Tuyết Mai, 1985), “Tiếng Việt- Sơ thảo ngữ pháp chức năng” (Viết chung, 1992), Âm vị học và tuyến tích. Suy nghĩ vầ các định đề của âm vị học đương đại (viết bằng tiếng Pháp, Paris, 1985), Tiếng Việt- Văn Việt- Người Việt (2003)….Ông được nhiều trí giả trong nước và ngoài nước ca ngợi về lĩnh vực này.

7. THANH HƯƠNG, Nhà văn

* Tên khai sinh: Đặng Thị Xuân, sinh ngày 23 tháng 9 năm 1939. Quê gốc: Diễn Hạnh, Diễn Châu. Nơi ở Hiện nay: quận Ba Đình, Hà Nội. Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Tốt nghiệp Đại học Tổng hợp, khoa Ngữ văn. Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (1985).

*Thanh Hương đã từng tham gia đoàn văn công ty Văn hoá tỉnh Nghệ An, làm diễn viên và sáng tác kịch bản. Tốt nghiệp đại học chuyển về làm cán bộ biên tập, cán bộ sáng tác của Bộ Văn hoá. 1989- 1994 Uỷ viên Ban thư ký Hội Nghệ sĩ sân khấu Việt Nam. 1990- 1992: Chánh văn phòng Hội Nghệ sĩ sân khấu Việt Nam; Uỷ viên Ban chấp hành Đảng uỷ khối tư tưởng- Văn hoá Trung ương. 1991- 1997 Uỷ viên Ban chấp hành Trung ương Hội Phụ nữ Việt nam. Đại biểu Quốc hội khoá 9, Phó chủ nhiệm Uỷ ban Văn hoá giáo dục thanh thiếu niên và nhi đồng của Quốc hội khoá 9.

* Tác phẩm đã xuất bản và dàn dựng: Kịch: Cái vuốt cọp (1970); Ngôi sao ban ngày (1972- 1973); Bản tình ca màu xanh (1978); Thung lũng tình yêu (1980); Vàng (1985); Khi tình yêu lên tiếng (1990); Tình xuyên đại dương ( 1991); Bài ca người mẹ ( 1995); Bông mai vàng (1995); Đời người giấc mộng ( 1996).

- Giải thưởng văn học: - Giải nhất kịch bản văn học của Đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam 1972 (Kịch bài ca người mẹ).- Giải ba kịch bản văn học của Hội Nghệ sĩ sân khấu Việt Nam 1974 ( Kịch Ngôi sao ban ngày) – Giải văn học Hồ Gươm của thành phố Hà Nội (1980- 1985) (Kịch Ánh sáng trái tim). Giải nhất kịch bản văn học Hạ Long 1980- 1985 (Kịch Vàng). – Giải kịch bản văn học nghệ thuật của Hội Nghệ sĩ sân khấu Việt Nam 1990. (Kịch Khi tình yêu lên tiếng). – Giải ba cuộc thi sáng tác kịch bản văn học của Hội Nghệ sĩ sân khấu Việt Nam và Bộ Văn hoá Thông tin 1995 (Kịch Đời người giấc mộng)..vv..

8. ĐỖ BẠCH MAI, Nhà thơ

( Các bút danh khác: Đỗ Bạch, Đỗ Thái Minh)

* Tên khai sinh: Đỗ Thị Bạch Mai, sinh ngày 6 tháng 2 năm 1951 tại Diễn Châu. Quê giíc: Nam Hồng, Nam Ninh, Nam Định. Thường trú tại Hà Nội. Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (1979).

* Nhà thơ lớn lên tại Hải Phòng trong một gia đình cán bộ, sau khi tốt nghiệp khoa văn Đại học sư phạm Hà Nội về dạy học tại Hải Phòng. Tiếp tục chương trình sau Đại học và năm 1981 về công tác tại Tuần báo Văn Nghệ thuộc Hội Nhà văn Việt Nam cho tới nay.

* Tác phẩm đã xuất bản: Một lời yêu ( thơ, 1992); Năm bông hồng trắng ( thơ, 1996).

- Nhà thơ đã được nhận: Giải thưởng cuộc thi thơ năm 1995 của Báo Văn nghệ; Giải C của Ủy ban toàn quốc liên hiệp văn học Nghệ Thuật Việt Nam năm 1996 với tập “ Năm bông hồng trắng”.

9. NGUYÊN THỊ PHƯỚC, Nhà văn

* Tên khai sinh: Nguyễn Thị Phước, sinh năm 1963 tại xã Diễn Xuân. Nơi ở hiện nay: phường Lê Lợi, thành phố Vinh. Tốt nghiệp Đại học Toán, Đại học Báo chí. Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam.

Nguyễn Thị Phước đã từng làm Tạp chí Văn hóa Hà Tĩnh, phóng viên, biên tập viên phần văn xuôi Tạp chí Hồng Lĩnh của Hội VN Hà Tĩnh.

Hiện nay là Tổng biên tập Tạp chí Sông Lam.

                * Tác phẩm đã xuất bản: Mưa đầu hạ ( thơ, in chung, 1993); Lời ru (thơ 1996); Lời cánh đồng (thơ 2001); Cho đồng thơm gió (Thơ, 2005); Chuyến tàu tháng bảy ( Truyện ngắn, 1999), Gió mùa đi qua ( Truyện ngắn, 2007), Người tìm mật (Bút ký 2005).

Nguyễn Thị Phước đã nhận được giải thưởng của Tạp chí Văn nghệ quân đội, giải thưởng Ủy ban toàn quốc Liên hiệp VHNT Việt Na, giải thưởng Nguyễn Du của UBND Hà Tĩnh và giải thưởng Hồ Xuân Hương của UBND tỉnh Nghệ An. 

10. LÊ THÁI SƠN, Nhà thơ

* Tên khai sinh: Lê Thái Sơn sinh năm 1949 tại xã Diễn Hạnh. Nơi ở hiện nay: Phường Quang Trung, TP Vinh. Tốt nghiệp Đại học Tổng hợp ngành văn, Hà Nội năm 1972.

Trước khi làm Chủ tịch Hội Văn nghệ Nghệ An, Lê Thái Sơn công tác ở Sở Văn hóa- Thông tin Nghệ An. Nay vì sức khỏe đã xin nghỉ hưu.

Tác phẩm đã xuất bản: Sao hôm sao mai (1984), Mùa na chín (1997), Cất nắng (2005). Gốc cây rừng trong mơ (1990), Tháng giêng xanh (2000), Cổ tích ở làng (2004).

Lê Thái Sơn đã nhận được giải thưởng của Báo Giáo dục và thời đại. Báo Thiếu niên tiền phong, Báo Tiền phong, của Hội đồng văn học thiếu nhi Hội nhà văn Việt Nam, hai giải thưởng của ủy ban toàn quốc Liên hiệp VHNT Việt Nam, ba giải thưởng Hồ Xuân Hương của UBND tỉnh Nghệ An. 

11. NGUYỄN TRỌNG TẠO, Nhà thơ

( Các bút danh) : Cẩm Ly, Nguyễn Vũ Trọng Thi, Nguyễn Vũ Bảo Chi, Vũ Kim Thanh, Nguyễn Trọng, Tào Ngu Tử…)

* Tên khai sinh: Nguyễn Trọng Tạo, sinh ngày 25 tháng 8 năm 1947 tại Tràng Khê, Diễn Châu. Hiện sống tại Hà Nội. Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam.

                * Trong chiến tranh chống Mỹ, Nguyễn Trọng Tạo làm Đoàn trưởng đoàn văn công xung kích thuộc Quân khu 4. Sau năm 1975 về Hà Nội tham gia trại sáng tác Quân đội, học Trường Đại học Viết văn Nguyễn Du khóa 1. Năm 1988, ông về công tác ở Hội Văn nghệ Bình Trị Thiên. Nguyên ủy viên Ban chấp hành Hội Văn học nghệ thuật Bình Trị Thiên, nguyên Ủy viên Ban chấp hành lâm thời Hội Văn học nghệ thuật Thừa Thiên- Huế. Nguyễn Trọng Tạo còn là Hội viên Hội nhạc sĩ Việt Nam, Hội viên Hội nhà báo Việt Nam.

                * Tác phẩm đã in: Tình yêu sáng sớm (thơ, 1974); Gương mặt tôi yêu (thơ, in chung, 1980); Con đường của những vì sao (trường ca, 1981); Sóng nhà đêm biếc (thư, in chung, 1984); Tình ca người lính (trường ca, 1984); Khoảnh khắc thời bình (truyện ngắn, 1987); Miền quê thơ ấu (truyện, 1988); Sóng thủy tinh ( thơ, 1988); Gửi người không quen ( Thơ, 1989); Ca sĩ mùa hè (truyện, 1991); Đồng dao cho người lớn (thơ, 1994); Thơ trên máy chữa và tản mạn thời tôi sống (thơ, 1995); Làng quan họ quê tôi ( nhạc, 1983)….

                - Nhà thơ đã nhận được giải thưởng thơ hay báo Văn nghệ 1978, Báo Nhân dân 1978, tạp chí Văn nghệ quân đội 1978; Giải thưởng Văn học nghệ thuật Cố Đô 1987- 1992, và 5 giải thưởng âm nhạc. 

                12. THÁI BÁ TÂN, Dịch giả

                * Tên khai sinh: Thái Bá Tân, sinh ngày 27 tháng 2 năm 1950. Quê gốc: xã Diễn Lộc, huyện Diễn Châu. Nơi ở hiện nay: Hà Nội. Tốt nghiệp Đại học Ngoại ngữ Matxcova, Hội viên Hội nhà văn Việt Nam (1987)

                * Thái Bá Tân đã từng làm phiên dịch tiếng Anh, Nga, giáo viên trường Sư phạm Ngoại ngữ; phụ trách phòng văn học nước ngoài Nhà xuất bản Lao động. Hiện nay là cán bộ biên tập Nhà xuất bản Hội nhà văn.

                * Tác phẩm đã xuất bản: Những cô gái áo trắng (truyện ngắn, 1983); Những viên cuội nhiều màu (truyện ngắn, 1986); Thơ chọn lọc (1996); Thơ sáu câu (1997); Sự đòi hỏi đáng yêu (truyện ngắn, in chung, 1988); Epghenhi Ônheghin (dịch); Tuyển tập thơ Bairon (dịch); Thơ Oma Khayam (dịch); Bài thơ bạch dương, Anh thợ xây vui tính (thơ dân gian); Truyện ngắn Thái Bá Tân (1996)

                * Thái Bá Tân là một dịch giả văn học có khá nhiều đầu sách ( khoảng 25 tập thơ và 30 văn xuôi, bao goomg cả tiểu thuyết và truyện ngắn). Ngoài dịch thuật ông còn sáng tác nhiều thơ và văn xuôi. 

                13. PHẠM THIỀU, Nhà nghiên cứu

                                ( Bút danh: Miễn Trai)

* Tên khai sinh: Phạm Thiều. Sinh năm 1904. Quê gốc: Diễn Phúc, Diễn Châu. Mất ngày 1 tháng 12 năm 1986 tại Thành phố Hồ Chí Minh. Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam. Giáo sư. Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (1957). 

14. TRẦN HỮU THUNG, nhà thơ

* Tên khai sinh: Trần Hữu Thung, sinh ngày 26 tháng 7 năm 1923; người thôn Trung Phường, xã Diễn Minh, Diễn Châu. Nơi ở hiện nay: Nghệ An. Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam. Trình độ văn hóa: tương đương Đại học. Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (1957). Mất năm 1999

- Nhà thơ đã được nhận nhiều giải thưởng, cao nhất là giải thưởng Nhà nước đợt 1 năm 2001.

15. VÕ VĂN TRỰC, Nhà thơ

* Bút danh cũng là tên khai sinh. Sinh ngày 28 tháng 1 năm 1936, tại quê gốc: làng Hậu Luật, xã Diễn Bình, huyện Diễn Châu. Hiện ở Hà Nội. Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam. Trình độ văn hóa: Đại học. Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam ( 1975)

*Sau khi tốt nghiệp Đại học sư phạm, Võ Văn Trực công tác tại Bộ ngoại giao. Từ 1962- 1967 làm biên tập Nhà xuất bản Thanh niên. Từ 1977 đến nay là Phó tổng biên tập tuần báo Văn nghệ

* Tác phẩm đã xuất bản: Thơ: Chú liên lạc đội Xích vệ (thơ thiếu nhi, 1971); Trận địa quê hương(1972); Người anh hùng đất Hoan Châu (1976); Ngày hội của rạng đông (1978); Hành khúc mùa xuân (1980); Trăng phù sa (1983); Tiếng ru đồng nội (1990); Hương trong vườn bão (1995); -Văn: Nắng sáng trời ngoại ô (1979); Câu chuyện những dòng sông (1983); Những dấu chân lịch sử (1985); Đèo lửa đèo trăng (1987); Truyền thuyết núi Hai Vai (1990); Chuyện làng ngày ấy (1993); Những thi sĩ dân gian (1996); Cái đầu hói và vết sẹo (2006). – Sưu tầm: Vè Nghệ Tĩnh (in chung, 1962); Cố Bợ (1983); Kho tàng ca dao xứ Nghệ ( in chung, 19960.

- Các giải thưởng văn học đã nhận: - Giải thưởng Hội Văn nghệ Hà Nội về thơ (1976- 1980) và bút ký (1981- 1985). Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam 1981- 1983 với tập thơ Trăng phù sa.- Giải thưởng Bộ giao thông vận tải 1987 với tập bút kỳ Đèo lửa đèo trăng..vv..

16. SƠN TÙNG, Nhà văn

(Bút danh khác: Sơn Phong)

* Tên khai sinh: Bùi Sơn Tùng, sinh ngày 8 tháng 8 năm 1928. Quê gốc: xã Diễn Kim, huyện Diễn Châu. Nơi ở hiện nay: Đống Đa, Hà Nội. Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam. Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (1979)

                * Sơn Tùng sớm tham gia Cách mạng. Ông hoạt động thanh niên qua các kỳ: Thanh niên Cứu quốc, Thanh niên Lao động. Năm 1955 là đại biểu thanh niên sinh viên Việt Nam dự Đại hội thanh niên sinh viên Thế giới lần thứ V tại Ba Lan. Ông từng làm giáo vụ Trường Đại học Nhân dân Việt Nam, giảng viên Trường Báo chí Trung ương, phóng viên mặt trấn khu V từ 1965- 1967. Dẫn đầu một đoàn nhà báo vượt Trường Sơn vào mặt trận Nam Bộ. Năm 1971 bị thương nặng. Năm 1972 chuyển ra Bắc. Sáng tác trong tình trạng thương tật. Thương binh hạng ¼. Chuyên viết truyện danh nhân cách mạng và đề tài lịch sử.

                *Tác phẩm đã xuất bản: Chim én mùa xuân ( diễn ca, 1961); Mười hai cô gái nông trường (truyện thơ, 1962); Bà mẹ làng Kim (truyện thơ); Xuân Lỗ Khê (ký); Bên khung cửa sổ ( Tập truyện, 1974); Nhớ nguồn (tập truyện, 1975); Con người và con đường (truyện, 1976); Trần Phú ( truyện danh nhân, 1980- 1985); Người vẽ cờ Tổ Quốc ( truyện danh nhân, 1981); Anh họa sĩ mù ( truyện ký, 1981); Búp sen xanh ( tiểu thuyết, 1982, 1984, 1990, 1996); Bông sen vàng (tiểu thuyết, 1990, 1996); Trái tim quả đất ( tiểu thuyết, 1990); Mẹ về ( truyện ký, 1990); Lõm (tiểu thuyết, 1994)…

                - Ông đã được Giải thưởng đặc biệt của cuộc vận động sáng tác kỷ niệm 40 năm ngày thành lập Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh ( tiểu thuyết Búp sen xanh)

                17. VĂN CÔNG, nhà thơ

                * Tên khai sinh: Cao Xuân Thiêm, sinh tháng 5 năm 1928. Quê gốc: xã Diễn An, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Hiện sống ở thị xã tuy Hòa, tỉnh Phú Yên. Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam. Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (1984)          

                * Nhà thơ Văn Công xuất thân trong một gia đình nhà nho nghèo, học hành dang dở, phải vào đời kiếm sống lúc 13 tuổi. Do sớm có năng khiếu, bấy giờ chú bé Cao Xuân Thiêm đã làm thơ ghi những điều trông thấy dọc đường , nhưng địa danh hấp dẫn: Vinh, Nghi Xuân, Đèo Ngang, Huế….Tháng 8- 1945 sau chuyến đi xa kiếm sống về,Cao Xuân Thiêm bước vào hoạt động cách mạng. Đó là cuộc hành trình xa quê gốc để vào vùng đất Liên khu 5 mà sau này trở nên thân thiết như chính quê mình. Ông từng là cán bộ đi vận động quần chúng ở vùng địch hậu miền đông Tây Nguyên trong kháng chiến chống Pháp. Hòa bình lập lại, ông không tập kết ra Bắc, tiếp tục ở lại nằm vùng phát động quần chúng. Từng là Phó Bí thư Tỉnh ủy phụ trách khối kinh tế phục vụ chiến trường Phú Yên, cán bộ phụ trách Ban chi viện chiến trường khu Trung Trung bộ, là thành viên Ban chấp hành Văn nghệ giải phóng khu Trung Trung bộ.

                Sau chiến thắng 1975, ông tiếp tục giữ các trọng trách của tỉnh: Quyền chủ tịch, Phó chủ tịch trực tỉnh Phú Khánh, Chủ tịch Hội Văn nghệ Phú Yên.

* Tác phẩm đã xuất bản: Bất khuất (tập thơ, 1964); Mảnh đất yêu thương (tập thơ, 1978); Khúc hát miền quê (tập thơ, 1985); Miền đất huyền thoại (tập ký, 1990); Vùng đất lửa (tập kỳ, 1990); Trước chiều gió (tập thơ, 1996); Hương đêm (tập thơ, 1996)

- Giải thưởng văn học: Hai bài thơ Lòng em Tiếng hát các em được Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật Trung ương tặng giải nhất (1960); Tập thơ Tiếng hát miền Nam, thơ in chung của nhiều tác giả, được Giải thưởng Nguyễn Đình Chiểu của Hội Văn nghệ Giải phóng (1965) 

18. CAO HUY ĐỈNH, (1927- 1975)

* Người làng xã Diễn Thịnh, nhà nghiên cứu văn hóa dân gian. Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (xem phần NVDC)

 |  Đầu trang
<<   <  1  2  >  >>
 
 
 
Văn bản chỉ đạo điều hành
Skip portletPortlet Menu
 
 
 
 
thư viện ảnh
Skip portletPortlet Menu