Giới thiệu chung
Skip portletPortlet Menu
 
Hệ thống chính trị
Skip portletPortlet Menu
 
Quy hoạch ĐT & PT
Skip portletPortlet Menu
 
Văn hóa - Du lịch
Skip portletPortlet Menu
 
LIÊN KẾT WEBSITE
Skip portletPortlet Menu
 
 
Truyền thống khoa bảng của người dân Diễn Châu
 
Qua tổng hợp về những người đậu đạt từ Hương Cống, Cử nhân cho đến Phó bảng, Tiến sỹ, tạm tính cả tỉnh Nghệ An có 1769 người thì Diễn Châu có 469 người. Trong số 469 người đó, có 36 đại khoa (Phó bảng, Tiến sỹ), 23 Hội thií trúng Tam trường, (Triều Nguyễn gọi là Phó bảng), 332 Hương cống triều Lê; 78 Cử nhân triều Nguyễn. Ngoài ra còn có hàng nghìn người đậu Tú tài (Tam trường thi Hương), mà chúng tôi chưa tổng hợp lại được trong bài này
-->
Truyền thống khoa bảng của người dân Diễn Châu (18/03/2016 10:08 AM)

TRUYỀN THỐNG KHOA BẢNG CỦA NGƯỜI DIỄN CHÂU 

Qua tổng hợp về những người đậu đạt từ Hương Cống, Cử nhân cho đến Phó bảng, Tiến sỹ, tạm tính cả tỉnh Nghệ An có 1769 người thì Diễn Châu có 469 người. Trong số 469 người đó, có 36 đại khoa (Phó bảng, Tiến sỹ), 23 Hội thií trúng Tam trường, (Triều Nguyễn gọi là Phó bảng), 332 Hương cống triều Lê; 78 Cử nhân triều Nguyễn. Ngoài ra còn có hàng nghìn người đậu Tú tài (Tam trường thi Hương), mà chúng tôi chưa tổng hợp lại được trong bài này.

Diễn Châu là huyện đồng bằng ven biển, nằm ở trung tâm vùng văn hóa xứ Nghệ, từng là lị sở nhiều năm của đất Châu Diễn, Nghệ An. Diễn Châu cùng là vùng đất cư trú của người Việt cổ ( qua những hiện vật đồng, đá khảo cổ học tìm được, mà tập trung ở Đồng Mỏm, Rú Ta…). Qua bao thế kỷ hình thành và phát triển, cho đến nay, Diễn Châu vẫn là một trong những trung tâm phát triển kinh tế, văn hóa xã hội…của tỉnh Nghệ An. Đặc biệt, con người Diễn Châu rất hiếu học, có nhiều ông Nghè, ông Cống đậu đạt vào loại cao nhất trong lịch sử khoa bảng của tỉnh Nghệ An dưới thời phong kiến.

                Qua tổng hợp về những người đậu đạt từ Hương Cống, Cử nhân cho đến Phó bảng, Tiến sỹ, tạm tính cả tỉnh Nghệ An có 1769 người thì Diễn Châu có 469 người. Trong số 469 người đó, có 36 đại khoa (Phó bảng, Tiến sỹ), 23 Hội thí trúng Tam trường, (Triều Nguyễn gọi là Phó bảng), 332 Hương cống triều Lê; 78 Cử nhân triều Nguyễn. Ngoài ra còn có hàng nghìn người đậu Tú tài (Tam trường thi Hương), mà chúng tôi chưa tổng hợp lại được trong bài này.

 Truyền thống hiếu học và khoa bảng của người Diễn Châu có từ rất sớm. Thời nhà Trần, tại đỉnh núi Cao Sơn đã có từ đường thờ Trạng nguyên Bạch Liêu (ông quê ở xã Mã Thành, phủ Diễn Châu, nay thuộc huyện Yên Thành). Bạch Liêu đậu Trại Trạng nguyên khoa thi Thái học sinh (Tiến sỹ) Bính Thìn- Thiệu Long 9 (1266). Sách “ Đại Việt sử ký tiền biên”có ghi về sự kiện này như sau:

“ Tháng 3, mở khoa thi chọn học trò, cho Trần Cố đỗ Kinh Trạng nguyên, Bạch Liêu đỗ Trại Trạng nguyên…47 người đỗ Thái học sỹ, cho xuất thân thứ bậc khác nhau (Liêu người Nghệ An, trí thông minh, nhớ lâu, đọc sách liếc mắt là được 10 dòng”.

 Trạng nguyên Bạch Liêu chính là người khai khoa cho tỉnh Nghệ An (cho xứ Nghệ xưa). Nơi thờ ông ở núi Cao Sơn ( thuộc đất Diễn Châu ngày nay) cũng chính là Văn hội của phủ Diễn Châu, nơi các sĩ tử thường tụ họp bình văn chương và làm lễ cầu khoa trong các kỳ dự thi Hương, thi Hội xưa.

 Từ đó, người Diễn Châu luôn ý thức phấn đấu học giỏi, đậu cao, dẫn đầu các khoa thi. Trong các vị Tiễn sỹ đỗ cao, Diễn Châu có 2 vị đỗ Song nguyên (đậu đầu 2 khoa thi): Song nguyên Cao Quỳnh, đỗ Giải nguyên (đầu thi Hương) và Hội nguyên (thi Hội)- Khoa Ất Mùi- Hồng Đức 6 (1475) với học vị Thám hoa (Đệ nhất giáp cập đệ danh). Vua Lê Thái Tông rất quý tài học của ông nên ngự bút đổi tên cho ông từ Lỗ sang Quýnh. Ông làm đến Đông các Đại học.

 Song nguyên Ngô Công Trạc, quê ở Diễn Kỷ, đỗ đầu khoa thi Hội và thi Đình năm Giáp Tuất- Chính Hòa 15 (1694); làm quan đến Hiến sát sứ.

 Người đỗ đầu một khoa thi có đến 13 người: Đặng Văn Thụy đậu Á nguyên thi Hương (thứ nhì) và Đình nguyên Đệ nhị giáp ( Hoàng giáp) khoa Giáp Thìn- Thành Thái 16 ( 1904), làm quan đến tế tửu Quốc Tử Giám (như hiệu trưởng trường Đại học duy nhất của đất nước thời phong kiến ).

 Trần Huy Phác đậu Hội nguyên- Đệ tam giáp khoa Kỷ Sửu- Minh Mệnh 10 (1829), làm quan đến Viên ngoại lang, Án sát Thanh Hóa…

 Những người đậu đầu thi Hương (Giải nguyên) có: Đặng Mã Oanh, Ngô Bình Thành, Hoàng Lãnh Đề, Nguyễn Minh Đạt, Nguyễn Minh Thông, Nguyễn Minh Nhạ, Hoàng Đăng Đạo, Tạ Hữu Khê, Cao Hữu Chú, Lê Huy Giám, Vũ Trí. Trong các giải nguyên thi Hương, đặc biệt có 3 cha con, ông cháu đều đậu giải Nguyên là Nguyễn Minh Đạt (quê thôn Yên Lãng, nay thuộc xã Diễn Thành), con là Nguyễn Minh Thông đậu khoa Canh Tuất- Cảnh Trị 8 và cháu là Nguyễn Minh Nhạ (con của Minh Thông), đậu khoa Nhâm Ngọ- Chính Hòa 23.

 Những người đậu Á nguyên (thứ nhì thi Hương) Diễn Châu có: Cao Cự Nhật, Cao Đẳng Liên, Trương Sỹ Độ, Đặng Văn Thụy....

 Để giành được vị trí đứng đầu các khoa thi xưa rất khó, vì có khoa thi có tới 4000- 5000 sỹ tử chỉ chọn được 8 đến 37 cử nhân (trong 42 khoa thi Hương triều Nguyễn ở Nghệ An, khoa ít nhất lấy 8 cử nhân là khoa Gia Long 8 (1907) và khoa lấy đông nhất 37 cử nhân là Mậu Tý- Đồng Khánh 3 (1888). Có khoa thi Tiến sỹ chỉ lấy đậu 3 người (khoa Nhâm Thìn- Quang Hưng 15 (1592)- khoa này 2 cha con Ngô Trí Tri và Ngô Trí Hòa quê Diễn Kỷ, Diễn châu chiếm 2/3 Tiến sỹ, con lại đậu cao hơn cha, thật là hy hữu.

 Ông Nguyễn Đông Luân (người làng Trung Phường ) hận vì thi không trúng giải Nguyên, mặc dù đã đỗ Huơng cống và Giám sinh Quốc Tử Giám, nhưng vẫn đi thi Hương lại. Thi lần thứ hai ông vẫn chỉ đậu Hương Cống và Quốc Tử Giám (hai lần thi đậu Hương cống). Có sỹ tử ở Diễn Châu vì không đậu được Tiến sỹ mà quyết tâm thi đi, thi lại mãi nhiều lần cũng chỉ ngấp nghé Tiến sỹ (từ Tam trường thi Hội). Ông Chu Phúc Cổn, người thôn Tam Khôi, nay thuộc xã Diễn Trường, thụy là Khôi Đạt (tên hiệu ông đặt cũng nhằm mong muốn đỗ đầu, đỗ cao) thi đậu Tam trường thi Hội khoa Nhâm Ngọ- Triều Lê Thần Tông, sau thi liên tiếp trúng 8 khoa thi Hội nữa cũng vào đến Tam trường. Người đời ca tụng ông là “thần nhân” thi đậu 9 khoa Hội thí Tam trường. Con cháu của ông là Chu Duy Kỳ, Chu Duy Dụng cũng đều đậu Tam trường thi Hội.

 Về cha con anh em thi đậu Tiến sỹ và Tam trường thi Hội còn phải tính: Nguyễn Bộc (người làng Đông Giai, nay thuộc Diễn Hùng) Hội thí trúng Tam trường, con là Nguyễn Trinh đậu Đệ nhất giáp Tiến sĩ triều Lê.

 Ở Diễn Châu có rất nhiều gia đình cha con (phụ tử) và huynh đệ (anh em) đều thi đậu Hương cống, cử nhân, tiêu biểu như: Nguyễn Thế Chính (người thôn Trung Phường, nay thuộc xã Diễn Minh) đậu Hương cống; con đầu là Nguyễn Văn Diễn, con thứ 2 là Văn Khuê, con thứ 3 là Văn Đẩu đều thi đậu Hương cống. Trần Danh Khỏa ở Hoàng Trường cả 5 cha con đều đậu Hương cống. Vương Tố Bảo ( 4 cha con) và Nguyễn Thế Mỹ (4 anh em) đều thi đậu Hương cống…vv…

 Diễn Châu cũng có nhiều dòng họ có truyền thống đậu đạt khoa bảng, mà tiêu biểu nhất là họ Ngô ở xã Diễn Kỷ. Các vị khoa bảng họ Ngô gồm có: Ngô Trí Tri (1537- 1628) thi đậu Tiến sỹ khoa Nhâm Thìn- Quang Hưng 15 (1592), con là Ngô Trí Hà ( 1565- 1626) đậu Tiến sỹ cùng khoa với cha và lại đậu cao hơn (Đệ nhị giáp- Hoàng giáp); Ngô Trí Trạch cha của Trí tri đậu Hương cống; Ngô Công Trạch đậu Tiến sỹ Hoàng Giáp Tuất- Chính Hòa 15 (1694); Ngô Sỹ Vinh đậu Tiến sỹ khoa Bính Tuất- Phúc Thái 4 (1646); Ngô Hưng Giáo đậu Tiến sỹ khoa Canh Dần- Vĩnh Thịnh 6 (1710); Ngô Trí Trung anh của Trí Hòa đậu Hương cống; Ngô Đẩu cháu của Trí Tri đậu Hương cống; Ngô Trí Cơ cháu của Sỹ Vinh đậu Hương cống; Ngô Sỹ Tuấn, Ngô Sỹ Tín đều con của Ngô Trí Hòa đều đậu Hương cống; Ngô Trí Liêu, con của Sỹ Vinh đậu Hương cống…vv…

 Ở Diễn Châu cũng có nhiều người học giỏi, tài cao nhưng đi thi mãi không đậu Hương cống, Cử nhân như Lê Sĩ Long, quê ở xã Diễn Lý, nay thuộc xã Diễn Ngọc, dù không đậu Hương cống, nhưng truyền học giỏi được cử làm Cống sinh cho phụ nhập học ở Quốc Tử Giám, rồi được cử đi làm quan Giao thụ phủ Triệu Phong, Tư vụ phủ Cam Lộ…Có người tuy không đậu cao ( Tiến sỹ, Phó bảng) mà chỉ đậu trung khoa (Cử nhân, Hương cống ) nhưng làm quan đã được thăng đến nhất phẩm, đại thần trong triều như: Nguyễn Trung Mậu, như Cao Xuân Dục.

 Nguyễn Trung Mậu (1785- 1846), người làng Văn Tập, nay thuộc xã Diễn Bình, con của Khám Lý hầu Nguyễn Trung Ý, cháu của Phái Trạch hầu Nguyễn Trung Thứ (Hội thi trúng Tam trường). Ông thi đậu Cử nhân khoa đầu tiên triều Nguyễn- Đinh Mão- Gia Long 6 (1807). Ông được gọi là thần đồng của đất Diễn Châu lúc nhỏ tuổi. Khi đầu làm quan Tri huyện Yên Mô sau được thăng các chức: Đốc học Bình Định, Lang trung bộ Hộ, Tả Thị Lang, Hữu Tham tri bộ công, Thượng thư bộ Công, Thượng thư bộ Hộ, Á khanh, Mậu Đức hầu, Thương thu bộ Lễ, sung cơ mật viện Đại thần, Thái thường tự ấn….Ông trải chức quan cả 4/6 bộ quan trọng của Triều đình, đứng đầu đến 3 bộ: bộ Công, bộ Hộ, bộ Lễ. Sau khi mất, ông được triều đình tôn thờ ở đền Hiền Lương trong triều.

 Cao Xuân Dục (1842- 1923), người xã Thịnh Khánh nay thuộc xã Diễn Thịnh, đậu Cử nhân khoa Bính Tý- Tự Đức 29 (1876). Làm quan từ Hậu Hỗ Quảng Ngãi, thăng trải các chức Án sát, Bố chánh, Chánh sứ, Tán lý quân vụ, Tuần vũ, Tổng đốc, Thượng thư bộ Học, Tổng tài sử quán, Chánh chủ khảo thi Hương, thi Hội, tước Thái tử, Thiếu bảo, An Xuân tử, Đông các Đại học sỹ. Ông để lại cho đời các tác phẩm đồ sộ: Quốc triều chính biên toát yếu, Quốc triều luật lệ toát yếu, Quốc triều Hương khoa lục, Quốc triều khoa bảng lục, Đại nam nhất thống chí, Nhân thế tu và hàng trăm tác phẩm thơ, văn , câu đối…Ông có công lớn bỏ tiền xây dựng thư viện Long Cương chứa hàng vạn cuốn sách. Những cuốn sách cổ, quý hiếm ông đều thuê sao chép làm nhiều bản, giao cho các con trai lưu giữ và để vào thư viện. Hiện các tài liệu Hán Nôm quan trọng của Viện nghiên cứu Hán Nôm là sách của thư viện Long Cương Cao Xuân Dục. Diễn Châu có nhiều vị khoa bảng làm quan to, sau khi mất được triều đình và nhân dân tôn thời làm Thành Hoàng và Phúc thần như Tạ Quang Luyện, Thái Bá Đậu, Cao Trọng Toàn, Chu Phúc Cổn, Nguyễn Trung Mậu….vv..

 Ngoài Tiến sỹ Văn, người Diễn Châu còn được vinh danh ở hàng Tạo sỹ (Tiến sỹ võ). Người thi đậu Tiến sỹ võ như 2 anh em Trần Danh Siêu và Trần Danh Thư ở làng Vạn Phần ( Diễn Vạn); Bùi Thế Toại, người xã Tiên Lý, đỗ Tạo sĩ khoa Bính Thân- Cảnh Hưng 37 (1776); làm quan đến Hiển lĩnh Trấn thủ Nghệ An, Phạm Trinh….

 Truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo của nhân dân Diễn Châu có thể nói đứng đầu đất xứ Nghệ xưa. Truyền thống ấy vẫn còn được tồn tại, phát huy cho đến ngày nay, với rất nhiều nhân tài, học giỏi đậu cao. Tiêu biểu cho thế hệ người mới của đất Diễn Châu có thể tính: Viện sĩ Dược học Đặng Thị Hồng Vân; Tiến sĩ ngôn ngữ Lê Duy Thước (Giải thưởng Hồ Chí Minh); nhà văn hóa dân gian Cao Huy Đỉnh (Giải thưởng Hồ Chí Minh ); Bộ trưởng Trương Đình Tuyển, đại sứ Ngô Quang Xuân, các nhà văn: Sơn Tùng, Võ Văn Trực, Nguyễn Trọng Tạo, Hoàng Hữu Các…vv..Thế hệ mới với hàng trăm Tiến sĩ, hàng ngàn Cử nhân có nhiều văn nghệ sĩ đoạt giải Quốc gia, có học sinh thi đậu Quốc tế, Quốc gia…đã xứng đáng tiếp nối được truyền thống khoa bảng của lớp tổ tiên, cha ông trên đất Diễn Châu ngàn năm văn vật.

                                                                                                Đào Tam Đỉnh

 |  Đầu trang
<<   <  1  2  >  >>
 
 
 
Văn bản chỉ đạo điều hành
Skip portletPortlet Menu
 
 
 
 
thư viện ảnh
Skip portletPortlet Menu