Giới thiệu chung
Skip portletPortlet Menu
 
Hệ thống chính trị
Skip portletPortlet Menu
 
Quy hoạch ĐT & PT
Skip portletPortlet Menu
 
Văn hóa - Du lịch
Skip portletPortlet Menu
 
LIÊN KẾT WEBSITE
Skip portletPortlet Menu
 
 
Diễn Châu - Trong lòng lịch sử dân tộc
 
Nước Việt Nam ta về phía Đông Nam Châu Á, Bắc giáp Trung Quốc, Đông và Nam giáp biển Đông, Tây giáp Lào và Cam- pu- chia, diện tích 329.600km2 trên đất liền và 700.000km thềm lục địa. Diễn Châu trong dòng chảy của dân tộc qua các thời kỳ như thế nào? Mời mọi người hãy xem bài viết sau
-->
Diễn Châu - Trong lòng lịch sử dân tộc (18/03/2016 10:04 AM)

DIỄN CHÂU- TRONG DÒNG LỊCH SỬ DÂN TỘC

 

Nước Việt Nam ta về phía Đông Nam Châu Á, Bắc giáp Trung Quốc, Đông và Nam giáp biển Đông, Tây giáp Lào và Cam- pu- chia, diện tích 329.600km2 trên đất liền và 700.000km thềm lục địa. Diễn Châu trong dòng chảy của dân tộc qua các thời kỳ như thế nào? Mời mọi người hãy xem bài viết sau 

Thời tiền sử, theo truyền thuyết thì Kinh Dương Vương là thủy tổ dân tộc ta, làm vua vào khoảng năm 2879 TCN. Kinh Dương Vương lấy con gái Thần Long sinh một con trai tên là Sùng Lâm. Sùng Lâm nối ngôi cha, hiệu là Lạc Long Quân. Lạc Long Quân lấy con gái Đế Lai là Âu Cơ, đẻ ra một bọc 100 trứng nở ra 100 người con trai. 

Người con trưởng của Lạc Long Quân và Âu Cơ lên ngôi vua, gọi là Hùng Vương (thứ nhất), đặt Quốc hiệu là Văn Lang, đóng đô ở Phong Châu (Phú Thọ), chia nước ra làm 15 bộ, trong đó có Hoài Hoan (Nghệ An). 

Các đời vua sau đều gọi là Hùng Vương (có 18 đời). Truyền thuyết Phù Đổng Thiên Vương ở đời Hùng Vương thứ 6, truyền thuyết Sơn Tinh- Thủy Tinh ở đời Hùng Vương thứ 18. 

Thục Phán- thủ lĩnh của người Âu Việt ( phá Bắc nước Văn Lang), hợp nhất Âu Việt với Văn Lang, xưng là An Dương Vương, đặt Quốc hiệu nước là Âu Lạc, đóng đô tại Cổ Loa (Đông Anh, Hà Nội) ( 257T- 208T).

Triệu Đà chiếm đất Lĩnh Nam của nhà Tần, xưng đế, rồi dùng mưu cướp được Âu Lạc, lập thành nước Nam Việt, đóng đô ở Phiên Ngung ( nay thuộc tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc), truyền ngôi được 5 đời thì bị nhà Hán (Hán Võ Đế) tiêu diệt. Nhà Hán diệt nhà Tần năm 136T thì đến năm 113T chiếm Nam Việt đổi là Giao Chỉ bộ.

Nhà Hán chia Giao Chỉ bộ ra làm 9 quận, trong đó có các quận Nhật Nam (Nghệ An), Cửu Chân (Thanh Hóa). 

Năm 39- 40, hai Bà Trưng dựng cờ khởi nghĩa, giải phóng dân tộc. Trưng Trắc lên làm vua ( 40- 43) đóng đô ở Mê Linh (Vĩnh Phúc). Từ năm 43 nước ta lại bị nhà Đông Hán đô hộ. 

Nhà Đông Hán mất, nước Trung Hoa phân làm ba nước (thời Tam Quốc): Bắc Ngụy, Tây Thục và Đông Ngô. Nước ta lúc đó thuộc Đông Ngô. 

Năm 280, nhà Tấn diệt Đông Ngô, giành quyền cai trị Giao Châu (280- 420).

Nhà Tấn diệt Ngụy, Thục, Ngô; nhưng các thần vương đánh giết lẫn nhau nên ngày càng suy yếu chỉ còn lại vùng phía Đông Nam bị Lưu Du cướp ngôi lập ra nhà Tống ở phía Nam.

Năm 420, Trung Quốc chia thành Nam, Bắc triều. Nước ta do Nam triều cai trị ( các đời Tống, Tề, Lương kế nhau). 

Từ năm 544- 602: nước ta tự chủ (nhà Tiền Lý và nhà Triệu, lấy Quốc hiệu Vạn Xuân. Kinh đô ở Thuận Thành, Bắc Ninh. Năm 571, Lý Phật Tử diệt Triệu Việt Vương, xưng là Hậu Lý Nam Đế, đóng đô ở Phú Thọ. Trong lúc Lý Phật Tử làm vua ở nước ta, thì ở Trung Hoa, Tùy Văn Đế dẹp yên được Nam, Bắc triều). 

Nhà Tùy thống nhất Trung Hoa năm 602, nhà Tùy chiếm được nước ta, chia đất Giao Châu thành 3 quận: Giao Chỉ (các tỉnh Bắc Bộ), Cửu Chân ( Thanh Hóa), Nhật Nam (Nghệ An). 

Theo Khâm định Việt sử thông giám cương mục, năm 607, nhà Tùy hợp cả Minh Châu, Trí Châu và Hoan Châu, đổi lệ thuộc quận Nhật Nam.

 Năm 618, nhà Tùy mất, nhà Đường cai trị nước ta, chia quận Nhật Nam đặt làm Năm Đức Châu, Lạc Châu, Minh Châu và Hoan Châu (VSTGCM).

 Theo An Nam chí lược của Lê Tắc (tác giả đời Trần) viết: “ Diễn Châu lộ vốn thuộc huyện của quận Nhất Nam, gọi là Phủ Diễn và An Nhân, nhà Đường đổi tên là Diễn Châu”.

 Năm 617, nhà Đường chia đất Giao Châu thành 12 châu, 59 huyện và gọi nước ta là An Nam đô hộ phủ.

Theo “Vân Đài loại ngữ”: của Lê Quý Đôn thì Diễn Châu đã được xuất hiện vào đời Tùy (Tùy Văn đế, 581- 589) từ quận Nhật Nam, đổi làm Hoan Châu và Diễn Châu, tức là huyện Hàm Hoan đời Hán, và Diễn Châu có 2 huyện: Trung Nghĩa, Long Trì ( địa lý hải châu trên cũng như Hoan Châu). Đây là tài liệu duy nhất mà chúng ta được biết cho rằng Diễn Châu xuất hiện vào đời Tùy, tức là trước năm Trinh Quán thứ nhất đời Đường Thái Tông khoảng 40 năm và các nhà sử học không tìm ra sử liệu nào là cơ sở để Lê Quý Đôn đưa ra nhận định trên.

Theo Lịch đại quận huyện địa lý thư của Trương Hiệp đời Tống soạn, cũng viết : Diễn Châu gồm có : Trung Nghĩa, Long Trì.

 Bộ sách Thái Bình hoàn vũ ký của Nhạc sử (930- 1007) đời Tống ( đỗ tiến sỹ, từng giữ chức Trứ tác lang trực sử quán thời Tống Thái Tông), chép: “ Diễn Châu kiêm lý huyện Trung Nghĩa đời Đường, năm Vũ Đức thứ 5 (622) đặt Hoan Châu ở huyện Hoài Hoan. Năm Trinh Quán thứ 1(627) đổi làm Diễn Châu, năm thứ 26 (653) lại bỏ châu, dồn vào huyện Hàm Hoan…Các phủ Trấn Biên, một phần của Trấn Ninh, Tương Dương, Quỳ Châu và miền Nam huyện Nông Cống ngày nay đều là đất Diễn Châu cả”.

Theo các nhà sử học, đây là bộ sách rất đáng tin cậy. Sách “ Đại Việt địa dư toàn biên” do Phương Đình Nguyễn Văn Siêu biên soạn có ghi: “ Diễn Châu Long Trì quận, trước là quận Trung Nghĩa, lại gọi là quận Diễn Thủy. Năm Trinh Quán, bỏ Quảng Đức, cắt đất Hoan Châu đặt làm Diễn Châu…, có 7 huyện: Trung Nghĩa, Long Trì, Vũ Lang, Vũ Kim, Hoài Hoan, Tư Nông, Vũ Dung”. Kết hợp với các bộ quốc sử và tư sử: “Khâm định Việt sử thông giám cương mục”, “Đại Nam nhất thống chí”, “Lịch triều hiến chương loại chí”, “Nghệ An ký”, các nhà khoa học tại cuộc toạ đàm khoa học ngày 11/9/2005 đã nhất trí cho rằng có đủ cơ sở khoa học để xác định chắc chắn tên gọi Diễn Châu được xuất hiện vào năm Trinh Quán thứ nhất đời Đường Thái Tông (627).

Như vậy, Diễn Châu là vùng đất cổ; thuộc bộ Hoài Hoan từ thời Hùng Vương, nhưng đến năm 627, cái tên Diễn Châu mới chính thức xuất hiện trong lịch sử đất nước. Địa vực có lúc rộng lúc hẹp, nhưng ngay từ khi xuất hiện năm 627, Diễn Châu đã đóng vai trò là một đơn vị hành chính cấp châu, và trải qua nhiều triều đại kế tiếp từ đời thuộc Đường đến các triều đại tự chủ như Khúc ( 905- 923), Dương ( 931- 938), Ngô (939- 965), Đinh (9680 980), Tiền Lê (980- 1009); Diễn Châu vẫn đứng độc lập là một châu riêng biệt.

  Nhà Lý (1010- 1225) quốc hiệu Đại Cồ Việt (kinh đô Hoa Lư, sau đó Lý Công Uẩn dời đô về Thăng Long năm 1054; Lý Thánh Tông lên ngôi vua, lấy Quốc hiệu Đại Việt, nhà Lý có 9 đời vua) Lý Thái Tổ cải tổ bộ máy hành chính, chính quyền địa phương cao nhất là lộ ( 24 lộ), rồi đến phủ, huyện, hương, giáp, trại. Châu Hoan, Châu Ái làm trại. Nhưng Diễn Châu vẫn được giữ nguyên tên gọi và là đơn vị hành chính cao nhất: lộ, và là một trong những trọng trấn của đất nước.

 Vào thời kỳ này, Diễn Châu có vị trí quan trọng trong phát triển đất nước, có nhiều cửa biển: Tha (Thơi) Cửa Viên (Quèn), ( Thời đó các cửa biển này sâu, đón tiếp nhiều tàu biển, tàu thuyền ngoại quốc, là vị trí đầu mối buôn bán ngoại thương ở phía Nam Đại Việt).

 Nhà Trần ( năm 1225- 1400, quốc hiệu Đại Việt, kinh đô Thăng Long) tiếp tục cải cách bộ máy, chia cả nước làm 12 lộ (là đơn vị hành chính địa phương cấp cao nhât, thống quản cả phủ, châu, trấn) trong đó vẫn giữ lộ Diễn Châu (bao gồm cả trấn Nghệ An). Năm 1369, cử Tĩnh Quốc Vương Trần Quốc Khang (anh họ vua Thái Tông) cai trị Diễn Châu; và sau này, đời vua Nhân Tông là Phí Mãnh- cai trị (An phủ sứ Diễn Châu). Năm 1375, vua Trần Duệ Tông đặt lại các lộ, phủ làm trấn. Thanh Hóa làm trấn Thanh Đô, Nghệ An làm trấn Lâm An, Diễn Châu làm trấn Vọng Giang. Cuối đời Trần, Phụ chính Thái sư Hồ Quý Ly đặt toàn quốc vào tình thế chiến tranh, đã chuyển đổi đơn vị hành chính địa phương theo phương thức quân sự, Diễn Châu được gọi là trấn.

Nhà Hồ (1400- 1407), quốc hiệu Đại Ngu, kinh đô Tây Đô (Thanh Hóa).

 Năm 1403, Hồ Hán Thương (con trai thứ 2 của Hồ Quỹ Ly nối ngôi cha, lại đổi trấn Vọng Giang làm phủ Linh Nguyên, cùng với phủ Thiên Xương, Cửu Chân, Ái Châu làm “tứ phủ”- là những vùng ở gần kinh kỳ, có trách nhiệm giúp đỡ, bảo vệ kinh kỳ, đứng vào hàng địa phương quan trọng nhất trong cả nước lúc bấy giờ.

 Đến tháng 6/ 1407, triều Minh diệt xong nhà Hồ, chiếm được nước ta, đổi nước ta thành quận Giao Chỉ, lập 15 phủ gồm 36 châu (181huyện), trong đó có châu Diễn Châu (thực tế phải đến năm 1414 nhà Minh mới thiết lập được hệ thống chính quyền các cấp phủ, châu, huyện ở nước ta).

 Năm 1417 chúng đặt thêm Châu Quỳ phụ thuộc phủ Diễn Châu; sau này bỏ tên gọi phủ Diễn Châu, sáp nhập thêm huyện Thiên Đông vào và lại gọi là châu Diễn Châu (Theo Đại Nam nhất thống chí, NXB KHXH, 1970).

Năm 1418, khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo. Sau khi thoát khỏi vòng vây, theo kế sách của Tướng quân Nguyễn Chích, Lê Lợi đưa quân vào Nghệ An, “nơi đất rộng người đông, nhân dân có truyền thống yêu nước và bất khuất từ ngàn xưa, đã đưa nghĩa quân Lam Sơn bước vào thời kỳ phát triển mới” ( Tóm tắt niên biểu lịch sử Việt Nam, NXB văn hóa Thông tin, 2004)

Năm 1425, Tư không Đinh Lễ đánh bại tướng Minh là Trương Hùng ở thành Diễn Châu (Thành Trài).

 Năm 1427, tướng Minh là Thái Phúc và Tiết Tụ ở thành Nghệ An và thành Diễn Châu đầu hàng.

 Năm 1428, Lê Lợi lên ngôi, lập ra triều Lê Sơ (Quốc hiệu Đại Việt, kinh đô Đông Đô, Hà Nội).

 Năm 1430, đổi Đông Đô thành Đông Kinh, Tây Đô ( Lam Sơn) thành Tây Kinh.

Năm Quang Thiện 10( 1469), vua Lê Thánh Tông định bản đồ đất nước chia cả nước thành 12 thừa tuyên. Thừa tuyên Nghệ An có 8 phủ gồm 12 huyện và 2 châu.

 Phủ Diễn Châu bao gồm 2 huyện là Đông Thành (gồm huyện Yên Thành và Diễn Châu ngày nay) và Quỳnh Lưu, các đơn vị hành chính trong nước ổn định hàng trăm năm sau. Bộ luật Hồng Đức, hội Tao Đàn, Bộ Đại Việt sử ký toàn thư ( Ngô Sỹ Liên), và đạo Quảng Nam (3 phủ, 9 huyện) có từ triều đại của vị vua này (từ 1470- 1497 lấy niên hiệu Hồng Đức).

Nhà Mạc thoán ngôi ( 1527). Từ 1533 có nhà Lê Trung Hưng, nhà Mạc coi như ngụy triều.

 Năm 1574, đời vua Lê Thế Tông tướng nhà Mạc là Nguyện Quyện chiếm Nghệ An (Năm 1592, quân nhà Mạc tan vỡ, xin hàng quân Lê- Trịnh rất đông. Con cháu nhà Mạc rút lên Cao Bằng, đến 1677 mới bị mất hẳn).

Năm Cảnh Hưng 28 (1767) đời vua Lê Hiển Tông, Trịnh Sâm hợp một số phủ, huyện. Phủ Anh Đô đổi làm phủ Anh Sơn kiêm lý phủ Diễn Châu. Năm 1802 Gia Long lên ngôi (Quốc hiệu Việt Nam, kinh đô Huế, năm 1811 trở lại tên Đại Việt) chia cả nước làm 23 trấn, 4 doanh, vẫn để phủ Diễn Châu kiêm lý huyện Đông Thành và huyện Quỳnh Lưu, thuộc trấn Nghệ An.

Năm 1831- 1832, vua Minh Mệnh cải cách hành chính, đã bỏ 2 tổng trấn, chia cả nước thành 30 tỉnh và Phủ Thừa Thiên ( trực thuộc Trung ương). Phủ Diễn Châu, thuộc tỉnh Nghệ An (Nghệ An có 9 phủ, 29 huyện) sắc cho bộ Công vẽ kiểu xây đắp thành cửa phủ Diễn Châu cao hơn, và tăng cường phòng vệ, bỏ bớt chức quản phủ để tránh phiền hà, lạm dụng….

 Năm 1837 nhà Nguyễn chia Đông Thành theo chiều đông tây làm 2 huyện Đông Thành và Yên Thành. Các triều vua Nguyễn kế tiếp là Thiệu Trị ( 1841- 1847), Tự Đức ( 1847- 1883), Hiệp Hòa ( 1883), Kiến Phúc (1883- 1884), Hàm Nghi ( 1884- 1885), đơn vị hành chính Diễn Châu được giữ ổn định theo các quy chế của vua Minh Mệnh, được tăng cường binh lính phòng thủ, tăng cường nhân sự. Năm Thành Thái 10 (1893) chia Đông Thành theo chiều Nam Bắc như hiện nay. Đông Thành, Yên Thành, Quỳnh Lưu thuộc phủ Diễn Châu.

Tháng 7, năm 1885 vua Hàm Nghi bỏ kinh đô Huế chạy ra Quảng Trị, xuống chiếu Cần Vương chống Pháp. Thực dân Pháp và các đại thần cơ mật đưa Ưng Xụy lên ngôi vua, hiệu là Đồng Khánh- ông vua bù nhìn thân Pháp. Người Pháp phải thừa nhận: “Chưa hề ở xứ nào, thời nào lại có một ông vua bị thần dân oán ghét như Đồng Khánh”.

Thân hào 2 phủ Anh Sơn, Diễn Châu lãnh đạo nhân dân nổi dậy chiếm giữ các nơi xung yếu trong phủ. Các viên phủ, huyện đều bỏ thành trốn đi. Thành Phủ Diễn do lực lượng nổi dậy kiểm soát. Triều định sai quan tỉnh Nghệ An phối hợp với quan quân Pháp đi đánh dẹp.

Hơn 80 năm thực dân Pháp xâm lược và thống trị nước ta, nhân dân ta đã liên tục vùng lên đấu tranh để tự giải phóng: ở miền Nam có khởi nghĩa Trương Định (1859- 1864) khởi nghĩa Nguyễn Trung Trực ( 1886- 1887), khởi nghĩa Bãi Sậy (1885- 1889), khởi nghĩa Yên Thế (1887- 1913), khởi nghĩa Thái Nguyên ( 1917- 1918); ở miền Trung có khởi nghĩa Hùng Lĩnh ( 1886- 1892), khởi nghĩa  Hương Khê ( 1885- 1896)….

 Cũng tháng 7/1885, ở phủ Diễn Châu, Nguyễn Xuân Ôn cùng một số sỹ phu văn thân tập hợp binh lính, làm lễ tế cờ ở làng Quần Phương (tổng Thái Xá) nay thuộc xã Diễn Thái, huyện Diễn Châu, quê hương ông). Địa bàn hoạt động của nghĩa quân rất rộng, kéo dài suốt từ miền núi xuống miền biển Nghệ An, có khi còn mở rộng sang đất Hà Tĩnh, gây cho giặc Pháp nhiều tổn thất.

Tuy các cuộc khởi nghĩa nói trên đều bị thực dân Pháp đàn áp đẫm máu và thất bại, nhưng đã biểu thị được tinh thần quật cường của dân tộc, đặc biệt là nhân dân phủ Diễn Châu, góp phần đưa tới thắng lợi của cuộc cách mạng tháng 8 do Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo.

Như vậy, địa danh Diễn Châu có từ năm 627, tuy địa vực có thay đổi từng thời kỳ nhưng vẫn như hình với bóng với Hoan Châu. Hoan Châu là đổi từ Đức Châu ra. Đức Châu có từ thời nhà Lương ( 502- 507) chia từ Cửu Đức ra. Cửu Đức vốn là được đặt ra từ thời Ngô ( 220- 280) tách từ quận Cửu Chân đời nhà Hán. Diễn Châu đời Hán là đất huyện Hàm Hoan, đời Đường là huyện Phủ Diễn và An Nhân, lại đổi là Diễn Châu, đời Lý, Trần- là lộ Diễn Châu, đời Lê Quang Thuận (Thánh Tông đổi làm phủ Diễn Châu thuộc thừa tuyên Nghệ An lãnh hai huyện Đông Thành và Quỳnh Lưu, năm Minh Mạng thứ 18, đặt thêm huyện Yên Thành (túc lãnh ba huyện: Đông Thành, Quỳnh Lưu, Yên Thành).

Từ sau Cách mạng tháng 8- 1 tất cả các phủ, huyện, châu đều gọi là huyện. Phần đất Diễn Châu (tức huyện Đông Thành) có điều chỉnh cắt phần đất phía Bắc tổng Hoàng Trường về cho Quỳnh Lưu (xã Quỳnh Diễn và Quỳnh Giang hiện nay).

Huyện Diễn Châu ngày nay ở tọa độ 18o11- 19o51 vĩ độ Bắc, 105o30- 105o39 kinh độ Đông, diện tích tự nhiên 304o, 92km2, dân số khoảng gần 30 vạn người, có thị trấn Diễn Châu và 38 xã (địa giới các xã cũng được điều chỉnh một đôi lần).

Trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ của dân tộc, Diễn Châu đã đóng góp hy sinh nhiều sức người, sức của cho tiền tuyến, làm một hậu phương vững chắc- vừa lao động sản xuất giỏi, vững chiến đấu anh dũng, ngoan cường.

Người Diễn Châu có nhiều đóng góp trong việc bồi đắp, giữ gìn bản sắc văn hóa Việt, và kho tàng văn hóa của nhân loại, trong văn học Nghệ thuật, trong cuộc sống, xây dựng quê hương, đất nước, cả hôm qua và hôm nay.                                                                                     

                                                                                                                Nguyễn Yên Phú

 

 |  Đầu trang
<<   <  1  2  >  >>
 
 
 
Văn bản chỉ đạo điều hành
Skip portletPortlet Menu
 
 
 
 
thư viện ảnh
Skip portletPortlet Menu