Giới thiệu chung
Skip portletPortlet Menu
 
Hệ thống chính trị
Skip portletPortlet Menu
 
Quy hoạch ĐT & PT
Skip portletPortlet Menu
 
Văn hóa - Du lịch
Skip portletPortlet Menu
 
LIÊN KẾT WEBSITE
Skip portletPortlet Menu
 
 
Lịch sử và các nhân vật của Diễn Châu
 
Để giúp người dân Diễn Châu hiểu rõ hơn về lịch sử mảnh đất mà mình đang sinh sống qua các biến cố thăng trầm của lịch sử. Ban biên tập xin giới thiệu lịch sử về Diễn Châu cũng như một số nhân vật nổi tiếng qua các thời kì,( từ năm 179 trước công nguyên đến năm 1945)
-->
Lịch sử và các nhân vật của Diễn Châu (18/03/2016 09:44 AM)

LỊCH SỬ VÀ CÁC NHÂN VẬT CỦA DIỄN CHÂU

(Từ năm 179 trước công nguyên đến năm 1945) 

                Để giúp người dân Diễn Châu hiểu rõ hơn về lịch sử mảnh đất mà mình đang sinh sống qua các biến cố thăng trầm của lịch sử. Ban biên tập xin giới thiệu lịch sử về Diễn Châu cũng như một số nhân vật nổi tiếng qua các thời kì,( từ năm 179 trước công nguyên đến năm 1945)

 I- Diễn Châu trong đêm trường Bắc thuộc

1.Bắc thuộc lần thứ nhất: Từ năm 179 trước công nguyên cho đến năm 40 sau công nguyên.

Thời gian này chúng tôi chưa tìm được dấu vết lịch sử gì quan trọng, chỉ biết ở xã Diễn Vạn, khoảng năm 25 sau công nguyên, con cháu của Hàn Tín bên Tàu sang lánh nạn.

 Hàn Tín là một tướng giỏi đã giúp Lưu Bang lập nghiệp đế vương ( Hàn Cao Tổ), được coi là “Tam kiệt” của nhà Hán. Nhưng đến lúc Lưu Hậu nắm quyền, với vụ án “Đầm Vân Mộng” thì Hàn Tín thất sủng, bị chu di tam tộc. Để tránh thảm họa, một số con cháu phải trốn chạy sang quận Cửu Châu để lánh nạn. Số chạy theo đường bộ dừng lại ở đất Lạng Sơn. Số chạy theo đường biển vào đất Hàm Hoan, ở Cồn Hà thuộc xã Vạn Phần, Diễn Châu bây giờ. Họ phải dấu họ tên, song đã để lại câu sau đây để con cháu nhận dòng nhận giống: “Tại Lạng vi Vi, tại Vạn vi Hà vi Lưu” nghĩa là ở Lạng Sơn thì lấy họ Vi ở Vạn Phần (tên cũ là Vạn Trường) thì lấy họ Hà và họ Lưu.

 Điều này cho ta rõ rằng, vào đầu thiên niên kỷ I, ở Vạn Phần đã có cư dân sinh sống. Số cư dân này đã cưu mang, giúp đỡ con cháu Hàn Tín, và họ đã hòa vào dân Việt, tồn tại và phát triển mãi tới nay.

 2. Bắc thuộc lần thứ hai: Từ năm 43 năm Mã Viện đem 2 vạn binh và 2 ngàn thuyền lớn nhỏ đàn áp nhân dân Âu Lạc dưới sự lãnh đạo của Hai Bà Trưng cho đến năm 544 khi Lý Bí nổi dậy chống quân quan nhà Lương.

                 Thời gian này ở Diễn Châu có dấu vết Triệu Quang Phục.

                Triệu Quang Phục, con của Triệu Túc, vốn là danh tướng của Lý Bí (có sách gọi là Lý Bôn), quê ở Chu Diên, phủ Vĩnh Tường (nay thuộc tỉnh Vĩnh Phúc). Giỏi võ nghệ, ông đã cùng cha theo Lý Bí khởi nghĩa, lật đổ chính quyền đô hộ vào năm 544. Thắng lợi Lý Bí xưng đế gọi là Lý Nam Đế, đặt tên nước là Vạn Xuân, ông là Tả tướng quân.

                 Năm 545, quân Lương lại xâm lược Vạn Xuân, đưa Dương Sàn làm thứ sứ. Năm 546, Lý Bí rút vào động Khuất Lão, giao quyền chỉ đạo kháng chiến cho Triệu Quang Phục. Quang Phục đưa quân về đầm Dạ Trạch (Hưng Yên) làm căn cứ, được xưng tụng là Dạ Trạch Vương. Năm 548, Lý Nam Đế mất ở động Khuất Lão. Triệu Quang Phục theo lối du kích đánh giặc, làm cho quân Lương núng thế. Năm 559, bên Trung Quốc có loạn, Quang Phục ra sức tấn công, giết được Dương Sàn, giải phóng đất nước, được tôn là Triệu Việt Vương.

                 Lý Thiên Bảo, anh của Lý Bí, tên là Lý Phật Tử đang đóng quân ở động Dã Năng (vùng sông Đà) được tin đem quân về đánh nhau với Triệu Quang Phục để giành lại ngôi vua. Đánh nhau giằng co, Quan Phục nghĩ tình Nam Đế, chia cho Phật Tử một nửa nước. Nhưng Phật Tử không chịu, đã dùng mưu đánh úp kinh thành Vạn Xuân, Quang Phục chống cự không nổi, phải chạy về phía Nam, đến cửa Đại An (Nam Định) nhảy xuống sông tự vẫn.

                 Không chỉ làng Độc Bộ, ở gần Đại An Nam Định, thờ ông mà làng Trinh Hà ở huyện Hoằng Hóa, Thanh Hóa cũng có đền thờ ông. Làng Đức Thịnh ở huyện Diễn Châu có đền thờ ông chắc là năm 542, nước Lâm Ấp ở phía Nam cho quân ra đánh phá đất Cửu Đức phía Nam nước Vạn Xuân. Để bảo vệ lãnh thổ mới khôi phục được, Lý Bôn sai tướng là Phạm Tu cùng với Triệu Quang Phục đem quân vào đánh quân Lâm Ấp. Hai tướng đã đánh lui quân Lâm Ấp ở huyện Cửu Đức.

                 Chắc trong những ngày đánh nhau với quân Lâm Ấp, Triệu Quang Phục đã dừng quân ở vùng biển Diễn Châu, đánh nhau với quân Lâm Ấp ở Diễn Châu, nên làng Đức Thịnh mới có đền thờ. Bởi quận Cửu Đức thời đó có 8 huyện, Diễn Châu nằm trong huyện Hàm Hoan của quận Cửu Đức.

                 Có ý kiến cho rằng khi chạy đến cửa sông Đại An, Triệu Quang Phục gieo mình tự tử, thi thể của Vua trôi dạt đến Câu Sơn, dân làng Đức Thịnh vớt lên chôn cất và lập đền thờ.

                 3. Bắc thuộc lần thứ 3: Từ năm 602, năm nước Vạn Xuân bị mất bởi quân xâm lược nhà Tùy, cho đến năm 905 Khúc Thừa Dụ nổi lên đánh đuổi quân đô hộ nhà Đường, chiếm thành Đại La, bước đầu dựng nên tự chủ.

                Nhà Tùy cai trị Trung Quốc được 29 năm và chiếm Giao Châu được 15 năm thì bị nhà Đường lật đổ (năm 618). Buổi đầu dân nhà Đường chưa nắm vững được vùng Giao Châu. Trong thời gian nhà Đường cai trị dân ta có những sự kiện quan trọng sau đây:

 - Năm 627 tức là năm Trinh Quán thứ nhất, đổi Hoan Châu, lấy Hoan Châu cũ làm Diễn Châu. Lúc ấy nó là đất của cả Nghệ Tĩnh. Cái tên Diễn Châu ra đời từ đó. Mặc dù đặt rồi năm 642 lại bỏ, và năm Quảng Đức 2 (764), mới trích phần phía bắc Hoan Châu đặt Diễn Châu. Diễn Châu lúc bấy giờ ngang với Châu Hoan và Châu Ái, gồm các huyện từ Diễn Châu lên đến Quế Phong tức phía Bắc Nghệ An hiện tại.

 - Đặt Lỵ sở ở Quỳ Lăng tức ở xã Lăng Thành, huyện Yên Thành bây giờ.

- Cửa Hiền, cửa sông Hiền mà nay gọi là cửa sông Lấp, là nơi mà các thứ sử nhà Đường thường ra vào Diễn Châu.

 - Từ năm 713 đến năm 722 ở huyện Vạn An tức Nam Đàn hiện tại có cuộc khởi nghĩa rộng lớn của Mai Thúc Loan. Theo Tân Đường thư “Mai Thúc Loan chiêu tập quân 32 châu, ngoài liên kết với các nước Lâm Ấp, Chân Lạp và Kim Lân, giữ vùng biển Nam, quân số có đến 30 vạn”. Thắng lợi, Mai Thúc Loan được ba quân tôn lên làm vua, lấy niên hiệu là Mai Hắc Đế, lấy thành Vạn An, ở thị trấn Nam Đàn bây giờ làm quốc đô. Trong 32 châu nói trên, lẽ nào không có Châu Diễn. Có lẽ nhiều trai tráng Diễn Châu lúc đó đã theo Mai Thúc Loan đánh đổ quân quan nhà Đường.

 II- Diễn Châu trong thời kỳ đấu tranh, bảo vệ và xây dựng nền độc lập của dân tộc.

1.       Dưới các triểu đại Ngô, Đinh, Tiền Lê

Về năm mở đầu thời kỳ độc lập tự chủ, sách “Việt Nam các sự kiện lịch sử” tập I, cho là năm 905, năm Khúc Thừa Dụ, một hào trưởng ở đất Hồng Châu, đứng lên đánh đổ bọn đô hộ nhà Đường, kéo vào thành Đại La, dựng quyền tự chủ cho đất nước.

 Khúc Thừa Dụ tự xưng là Tiết độ sứ, nhà Đường phải phong chức Đồng binh chương sự, thừa nhận người Việt cai quản đất Việt.

Năm 907, Khúc Thừa Dụ mất, con là Khúc Thừa Hạo, rồi cháu là Khúc Thừa Mỹ lên thay cũng như vậy.

 Năm 930, vua Nam Hán là Lưu Cung sai Lương Khắc Trịnh đem quân sang đánh nước ta, Khúc Thừa Mỹ chống không nổi, mất thành Đại La. Năm 193, Dương Đình Nghệ, một tướng cũ của họ Khúc, hào trưởng vùng Dương Xá (Thanh Hóa) đem quân tái chiếm thành Đại La, tiếp tục sự nghiệp của họ Khúc, làm chủ đất nước, cũng xưng là Tiết độ sứ. Nhưng rồi bị Kiều Công Tiễn, một nha tướng giết hại.

 Năm 938, Ngô Quyền, con rể của Dương Đình Nghệ, được giao coi giữ đất Ái Châu, tổ chức chống giặc Nam Hán do Kiều Công Tiễn rước về. Ngô Quyền đã đánh tan quân Nam Hán ở bến sông Bạch Đằng, kết thúc hoàn toàn thời ký mất nước kéo dài hơn ngàn năm.

Các sách sử lâu nay đều viết như vậy, sách này cũng viết như vậy.

 a, Dưới thời nhà Ngô (939- 967)

Mở quyền độc lập tự chủ, Ngô Quyền xưng vương, đóng đô ở Cổ Loa. Chắc rằng những năm đầu dựng nước, tình hình chính trị cả nước cũng như riêng xứ Nghệ chưa thật ổn định, nên Ngô Quyền phải quan tâm và giải quyết nhiều việc quan trọng.

Đối với vùng viễn trấn này, chúng ta chỉ biết Ngô Quyền cử Đinh Công Trứ ( cha Đinh Tiên Hoàng) vào làm Thứ sử Hoan Châu. Tục ném đá ở Cát Ngạn (Thanh Chương) chắc có liên quan ít nhiều đến Đinh Tiên Hoàng trong những ngày còn nhỏ tuổi ở với cha tại lỵ sở Châu Hoan lúc đó có lẽ ở vùng Cát Ngạn- Đô Lương.

 Còn ở Diễn Châu, tại làng Thư Phủ có đền thờ Ngô Vương thượng đẳng phúc thần. Đền nằm trên một khoảng đất rộng cây cối um tùm. Đền có 2 tòa, trước  tòa từ xưa tới nay có một cái đài dựng sẵn, có lò hương. Bên cạnh đài có 2 cột quyết với câu đối:

 Đẳng Hải thủy lưu trường, bất ký hà niên trầm chiến hạm,

Tỳ Bà giang cổ độ, tương truyền thử địa trú chinh phiên.

Dịch nghĩa:

Nước Bạch Đằng chảy hoài, không ghi lại năm nào đắm chìm chiến hạm.

Bến đò Tỳ Bà xa xưa, tương truyền rằng nơi đây đã từng treo cờ hàng của giặc.

 Lời truyền ngôn rằng, có lần quân Chiêm Thành kéo sang gây rối ở phía nam sông Lam, Ngô Quyền phải tuần hành để tiễu trừ, đã đóng quân ở đây. Ngô Vương đi, còn để lại dấu thiêng, dân Thủ Phủ làm đền thờ. Thực hư đến đâu chưa tìm hiểu rõ, song đó cũng là đền duy nhất ở Diễn Châu và cả xứ Nghệ thờ Ngô Quyền.

 b, Dưới thời nhà Đinh ( 968- 980)

Năm 944, Ngô Quyền mất, nội bộ nhà Ngô rối ren, nạn hào trưởng cát cứ gây thành loại 12 sứ quân. Truyền ngôn rằng, có một thủ lĩnh của một sứ quân là Ngô Xương Xí, con Ngô Xương Ngập, chiếm giữ vùng Bính Kiều (Thanh Hóa) cho người thân tín vào Diễn Châu để vận động ủng hộ. Nhưng rồi Đinh Bộ Lĩnh, là 1 trong 12 sứ quân có sức mạnh hơn, dẹp được các sứ quân khác, thống nhất bờ cõi, xưng và Vạn Thắng Vương, rồi xưng là Đại Thắng Minh Hoàng đế, đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa Lư vào năm 968.

 Đinh Tiên Hoàng chia nước làm 10 đạo. Nhưng tiếc thay, đến nay chúng ta chưa rõ vị trí và danh hiệu các đạo đời Đinh. Sách cũ vẫn gọi thời đó là Hoan Châu và Diễn Châu. Không ghi một dòng nào về sự nghiệp của nhà Đinh trên đất Hoan Diễn này. Chỉ có việc cử con là Đinh Công Trứ vào làm Thứ sử Hoan Châu. Còn trong truyền thuyết, huyền thoại, thần tích cũng không có mẩu chuyện nào nói về Hoan Châu. Cuối đời Đinh Tiên Hoàng, nhà Đinh gặp rối ren. Năm 978, Đỗ Thích, một chi hậu nội nhân, giết hại Đinh Tiên Hoàng và Nam Việt Vương Đinh Liên thì nhà Đinh bắt đầu suy sụp.

 c, Dưới thời nhà Tiền Lê ( 980- 1009)

Lợi dụng tình hình đó, vua Tống cho Hầu Nhân Bảo đem quân sang đánh nước ta. Trước họa ngoại xâm, nội bộ triều đình nhà Đinh ý kiến phân tán, các tướng sĩ tôn Lê Hoàn lên làm vua gọi là Đại Hành Hoàng đế, Thái hậu Dương Vân Nga đã lấy áo Hoàng bào mặc cho Lê Hoàn giao cho Lê Hoàn tổ chức kháng chiến. Đó là năm 980.

Lên ngôi vua, Lê Hoàn đặt niên hiệu là Thiên Phúc, dấy binh đánh Tống, giết chết tướng giặc là Hầu Nhân Bảo, phá tan giặc ở nhiều nơi khác, làm cho quân Tống bị đại bại, vua Tống phải bãi binh.

 Thắng Tống ở phía Bắc, cho thấy nam quân Chiêm Thành thường sang quấy nhiễu, năm 982, Lê Hoàn đem quân đánh Chăm Pa. Liên tiếp thắng lớn, quân của nhà vua tiến vào tận kinh đô Indrapura (Đồng Dương, Quảng Nam), đánh bại lực lượng quân sự của nước này.

 Nhưng rồi có Dương Tiến Lộc giữ chức Quản Giáp, nhân đi thu thuế ở Hoan Ái, bèn cầm đầu 2 châu nổi dậy làm phản, theo về với Chăm Pa. Năm 998, nhà vua phải thân chinh đi đánh mới dẹp yên được.

 Chắc hai lần hưng binh ấy, Diễn Châu và Hoan Châu nơi trấn nam, đã cung đốn nhiều người và của. Nhất là lần thứ 2, chiến trường lại diễn ra ở địa phương, nên Diễn Châu có tổn hại ít nhiều.

 Thấy Chăm Pa thường đem quân đánh phá Nam cương, đi đường bộ xa xôi, khó khăn; đi đường biển thì hay gặp gió bão; để thuận lợi hơn trong việc di chuyển quân và lương thực vào trấn giữ cõi Nam, Lê Hoàn quyết tâm mở thêm một tuyến giao thông đường sông. Năm 1003, nhà vua đi Hoan Châu trực tiếp chỉ huy việc đào sông Đa Cái, tức Kênh Đước ở xã Hưng Tấy (Hưng Nguyên) phía tây thành phố Vinh. Trước đó nhà vua đã cho đào kênh Son ở Quỳnh Lưu. Ở Diễn Châu con sông chảy từ sông Bùng qua Nho Lâm vào Cao Ái nối liền với kênh Sắt cũng do Lê Hoàn cho đào vào thời gian này nên cũng gọi là kênh nhà Lê.

 Năm 1005, Lê Hoàn mất, các con tranh chấp ngôi báu, cầm cự nhau 8 tháng, cuối cùng Thái tử Lê Long Việt lên ngôi. Mới được 3 ngày, bị Lê Long Đĩnh cho thích khách giết chết, cướp ngôi, làm vua.

Lê Long Toàn còn gọi là Lê Long Tích, trước đó được vua cha Lê Hoàn phong là Động Thành Vương, chạy vào Hoan Diễn. Lê Long Toàn dựa vào lỵ sở Diễn Châu ở Công Trung ( Văn Thành, Yên Thành hiện tại) đóng giữ ở Công Trung để trấn giữ cả cõi phía Nam. Long Toàn ra sức xây thành, đắp lũy, đào hào; tích trữ lương thảo, chiêu dụ binh mã. Uy thanh của Đông Thành Vương vang động tới Hoa Lư. Lê Long Đĩnh phải đem quân vào đánh, đánh mãi không được.

 Khi Lý Công Uẩn lên ngôi vua, Lê Long Toàn vẫn chiếm cứ Diễn Châu, bố phòng chặt chẽ cửa Vạn, cửa Hiền, tự tôn xưng là Hoàng đế. Nhà Lý cũng sai tướng đưa quân vào đánh, đánh mãi không xong. Tháng 12 năm Nhâm Tý (1012). Lý Thái Tổ phải làm tướng cầm quân vào đánh. Bị thua, Lê Long Toàn chạy vào phía nam Hoan Châu, quân Lý đuổi theo. Gần đến Cửa Sót (thuộc Thạch Hà) thì Lý Thái Tổ bắt được Lê Long Toàn, đem giết đi.

 Đó là một sự kiện lịch sử lớn, diễn ra trên đất Diễn Châu và cả xứ Nghệ, kéo dài 7 năm, chắc thời gian đó nhân dân Diễn Châu đã chịu nhiều vất vả, đau khổ.

 d, Dưới thời nhà Lý (1010- 1225)

Lý Công Uẩn lên ngôi vua đặt niên hiệu là Thuận Thiên, dời đô từ Hoa Lư về Đại La, đổi tên là Thăng Long, đại xá cho thiên hạ, đổi 10 đạo làm 24 lộ, Châu Hoan, Châu Ái có thời gian gọi là Trại, đơn vị hành chính cơ sở gọi là hương giáp.

 Quan tâm đến viễn trấn, năm 1024, nhà Lý lập trại Định Phiên ở biên giới Châu Hoan ( thuộc Kỳ Anh ngày nay) và cho quản giáp Lý Thái Giai làm chủ trại; năm Thiên Thành thứ 3 (1030) đổi Hoan Châu là Nghệ An, tên Nghệ An có từ đó, còn Diễn Châu có lẽ vẫn để như cũ, năm Thông Thụy thứ 3( 1036) đặt hành dinh ở châu Nghệ An; Càn Phù Hữu Đạo năm thứ 3 ( 1041) cử Uy Minh hầu Lý Nhật Quang vào làm Tri Châu Nghệ An. Ai làm Tri châu Diễn Châu hay Lý Nhật Quang kiêm quản cả Diễn Châu, điều này không thấy sử nói rõ.

 Lý Nhật Quang là một người có học vấn, có đức độ, nhất là có tài kinh bang tế thế. Với tấm lòng yêu nước thương dân, với tầm nhìn chiến lược và có những chính sách đúng đắn, táo bạo, tiến bộ mang tính chất toàn diện để kinh dinh châu Nghệ An; ông đã xây dựng và phát triển Nghệ An từ một vùng biên viễn hẻo lãnh, nhiều gian lao và thử thách, thành một châu phồn thịnh về mọi mặt, tạo ra một bước ngoặt trong lịch sử phát triển của cả Nghệ An. Công lao của ông không những góp phần giữ vững biên cương, củng cố quyền lực của Nhà nước trung ương tập quyền thời Lý mà còn làm hậu thuẫn vững chắc cho các triều đại về sau.

 Khắp xứ Nghệ, ở đâu cũng thấy có đền thờ Lý Nhật Quang. Sử không nói rõ, nhưng tại Diễn Châu ở làng Yên Lý Thượng (Diễn Yên) có đền thờ Lý Nhật Quang. Làng Hữu Bằng (xã Diễn Ngọc), cũng có đền thờ Lý Nhật Quang. Chắc là còn một số làng nữa, có đền thờ Lý Nhật Quang, song tìm hiểu chưa thật cụ thể, nên không dám ghi vào sách này.

 Cũng dưới thời Lý, tháng 10 (âm lịch) năm 1103, Lý Giác ở Diễn Châu làm phản. Lý Giác là một thân vương được triều đình cho cai quản Diễn Châu. Tương truyền Lý Giác học được nhiều phép thuật kỳ lạ, thường “kết cỏ buộc cây làm hình người, có thể sai khiến chúng nó đâm chém, bay nhảy được” nên nhiều người theo về với Giác. Vua Lý Nhân Tông cho Lý Giác là tay giặc kiệt hiệt, sai Lý Thường Kiệt cầm quân vào đánh “Quân kéo đến Diễn Châu, đánh kịch liệt, cản phá được giặc.Lý Giác chạy sang Chăm Pa, còn dư đảng thì quan quân dẹp yên được cả”. Lý Thường Kiệt đem quân thắng trận về triều.

Chạy sang Chăm Pa, Lý Giác nói rõ hết tình hình hư thực của nước ta. Chúa Chăm Pa là Chế Ma Na tin lời, bèn cử binh đi lấn cướp lấy lại 3 châu Bố Chính, Lâm Bình và Địa Lý mà trước kia Chế Củ đã dâng cho nhà Lý.

 Tháng 2 năm Giáp Thân (1104), vua Lý lại sai Lý Thường Kiệt kéo quân đi đánh Chăm Pa. Quân Chăm Pa đại bại. Chế Ma Na phải trả lại ba châu đã chiếm.

Cũng như các lần hưng binh bình định cõi Nam trước, lần này ắt Diễn Châu và cả xứ Nghệ phải cung đốn nhiều nhân tài vật lực.

 Từ đó biên giới phía Nam tuy có được củng cố vững chắc hơn, nhưng luôn bị các nước phía Nam, phía Tây quấy rối, Đại Việt sử ký toàn thư Khâm định Việt sử thông giám cương mục đã ghi các năm: 1128, 1132, 1150, 1159, 1161, 1167, 1177, 1203, 1217, 1218…dưới triều Lý khi thì Chăm Pa, khi thì Chân Lạp, khi thì cả Chăm Pa và Chân Lạp, khi thì Bốn Man, khi thì Ai Lao, khi thì cả Bốn Man và Ai Lao, chúng đem quân đánh phá Nghệ An, Diễn Châu. Với ngần ấy cuộc giao tranh, tuy rằng trước sau chúng đều thất bại, đủ biết nhân dân Nghệ An, Diễn Châu đã phải chịu đựng nặng nề, đau thương, điều tàn, mất mát về binh hoả như thế nào.

 2.       Dưới triều đại Trần, Hồ

a, Nhà Trần (1226- 1400)

Năm 1226, Trần Cảnh lên ngôi vua, lấy niên hiệu là Kiến Trung, mở đầu vương triều nhà Trần. Những năm đầu, nhà Trần phải đối phó với các lực lượng cát cứ trong nước như Nguyễn Nộn ở Bắc Giang, Đoàn Thượng ở Hồng Châu…rồi lo xây dựng triểu nghi, sửa đổi hình luật, cắt cử quan chức, thi tài học sinh để kén chọn nhân tài….Năm 1233, Triều đình nhà Trần mới cử Phùng Tá Chu đi duyệt định sắc mục ở Nghệ An (và Diễn Châu). Duyệt định ra sao không thấy sách sử nói rõ. Năm 1243, chia cả nước thành 12 lộ, đặt chức An Phủ, hoặc Trấn Phủ có 2 viên chánh phó để cai trị. Nghệ An là một lộ. Diễn Châu cũng là một lộ.

 Năm 1252 vua Chăm Pa thường cho quân cùng thuyền bè quấy nhiễu, cướp bóc vùng ven biển phía Nam. Vua Trần Thái Tông, phải thân chinh, sai Khâm Thiên đại vương là Nhật Hạo làm lưu thủ.

 Thần tích trang Kim Hoa, sau đổi thành Hoa Luỹ, đời Thiệu Trị đổi là Kim Luỹ, nay là xã Diễn Kim có nói việc đó. Nhưng lại nói rằng, vua định thân chinh, nhưng lại cử tướng Lê Nghĩa, người Nghệ An, làm đại tướng, thống lĩnh thuỷ bộ binh mà lên đường đánh quân Chiêm. Giữa quốc sử (ĐVSKTT) và thần tích, ta tin vào quốc sử hơn, có lẽ Lê Nghĩa là một tướng trong lực lượng đi Nam chinh ấy.

Thần tích nói: Đem quân vào đến Nghệ An, tướng Lê Nghĩa phát hịch kêu gọi những ai tài giỏi và có sức khoẻ hãy tòng quân giết giặc. Trai tráng ra đứng dưới cờ khá đông. Bấy giờ ở Nghệ An có 12 ông, giỏi cả văn lẫn võ, nổi tiếng hơn đời, bèn bảo nhau quyết chí theo tướng Lê Nghĩa, phò nhà vua đánh giặc quân Chăm Pa. Các ông đã bày cách đánh giữ, thế tiến thoái với tướng Lê Nghĩa.

 Tướng quân vốn biết tài lược của các ông, liền giao cho các chức vụ chỉ huy, chia binh mã ra làm Đông, Tây, Tiền, Hậu, Tả Hữu gồm 6 vệ đóng 6 nơi, mỗi nơi 2 ông trấn giữ. Còn tướng quân thì thống lĩnh trung quân, hẹn ngày nhất tề phá giặc.

Mùa thu tháng Tám năm (?), tướng quân đem vài chục quân Kỵ mã đến áp luỹ quân Chiêm rồi hạ lệnh cho 6 cánh quân cùng tiến. Quân Chiêm địch không nổi, bị đánh tan tành, tướng bị bắt, quân bị giết rất nhiều.

 Trên đường trở về kinh sử, qua địa phương Nghệ An bây giờ; khao thưởng uý lạo quân sĩ xong, tướng quân Lê Nghĩa tự nhiên hoá thân. Còn 12 ông cũng cáo bệnh, xin ở lại hương ấp, vui thú điền viên.

 Đến năm Hưng Long (1293- 1314) quân Chiêm lại sang xâm lược bờ cõi, vua Trần Anh Tông thân chinh. Ban đầu thường thua trận, nhà vua rất lo, xuống chiếu vời các công thần đời trước. Đã già yếu lại thường ốm đau, từ chối không được, 12 ông lại lên đường ra mắt nhà vua. Vua thân vỗ về khuyến khích. Các ông vâng mệnh giúp vua đại phá quân Chiêm. Quân Chiêm thua to. Khi khao thưởng tướng sĩ, vua ban cho các ông tước lộc cao, các ông không nhận, ban tiền lụa, các ông bái tạ về quê, lại vui với các mỏm đa, bãi cỏ xanh, làn nước biếc…

Ít năm sau, nhà vua lại cho người vào vời, nhưng đã già yếu, lại không muốn để tước lộc buộc vào mình, các ông cùng nhau đến trang Kim Hoa ở ẩn. Nhà vua vẫn xuống lệnh vời, các ông bày bàn thắp hương bên bờ biển khấn vái trời đất, thánh thần, tỏ lòng trung nghĩa với nước non rất quang minh chính đại như thanh thiên bạch nhật. Khấn xong, bỗng mưa gió ầm ào, sóng xô cuồn cuộn, các ông lặng lẽ đi vào biển thẳm.

 Dân trang Kim Hoa thương các ông như là mất cha mất mẹ. Mấy ngày sau thi thể các ông bỗng nổi lên tại một khúc sông của bản trang, dân trong trang kéo ra vớt lên, rước về, chọn mảnh đất đẹp mai táng rồi lập đền thờ, tục gọi là Miễu Mã, đèn nhang 4 mùa thờ cúng.

 Thần tích nói như vậy. Đàng sau những lời huyền thoại, sự thật lịch sử đến đâu; tướng Lê Nghĩa, người làng xã nào. 12 ông ấy, có phải ở trang Kim Hoa cả không? Có ông nào là người Diễn Châu?

Dẫu sao ở Diễn Kim có Miễu Mã với thần tích như vậy cũng đáng để ta nghiên cứu và coi đấy là dấu về lịch sử về đầu đời Trần.

                                                                                 ***

Nhà Trần vang dội với 3 lần chiến thắng quân Nguyên Mông.

Sau thất bại năm 1258, nhà Nguyên Mông vẫn nuôi ý đồ xâm lược Đại Việt. Nghĩ rằng muốn thắng giặc ở phương Bắc thì phải củng cố, xây dựng lực lượng ở phương Nam, nên năm 1266, Triều đình xuống chiếu cho Chiêu Minh vương Thượng tướng Trần Quang Khải vào làm quản hạt Nghệ An. Ông là người có trí, có nhân, văn võ kiêm toàn.

 Vào Nghệ An, Trần Quang Khải đã vỗ về nhân dân thu dụng những người có tài đức, sử sách còn để lại, người được Trần Quang Khải trong dụng hơn cả, coi là môn khách là Trạng nguyên Bạch Liêu.

 Bạch Liêu quê ở xã Nguyễn Xá huyện Đông Thành thuộc Diễn Châu thời đó. Ông đỗ Trạng Nguyên năm 1266, đời Trần Thánh Tông. Bạch Liêu không ra làm quan, chỉ làm môn khách cho Trần Quang Khải, được Trần Quang Khải đãi vào hàng mạc khách (khách trong màn). Chính Bạch Liêu đã thảo cho Trần Quang Khải một kế hoạch xây dựng, củng cố miền biên trấn này. Đó là “Biến pháp tam chương”. “Biến pháp tam chương” gồm những điểm: 1. Tuyển quân tại chỗ, theo như nghĩa vụ quân sự bây giờ, luyện tập cho xong, cho về làm ruộng, có biến mới gọi ra. 2. Khai khẩn đất hoang ở Nghệ An và cả bên kia đèo Ngang để có thêm lượng thực và nhất là đất ở đầu dân ở đó, để dễ bề đối phó với địch. Muốn thế phải đưa dân từ ngoài Bắc vào cư trú. 3. Phải lập các kho quân lương.

 Riêng ở Diễn Châu, thời gian Trần Quang Khải làm quản hạt Nghệ An, công chúa Trần Thị Châu Nương, phu nhân thứ ba của Trần Quang Khải cũng vào theo. Bà cũng chiêu dân lập ấp, mở một trang trại lớn gọi là Trang Lâm bao gồm xã Hạnh Lâm và Đào Viên cũ tức là đất Diễn Quảng và Diễn Hoa bây giờ.

 Đây là nơi tích trữ lương thực, đặt kho vũ khí, dựng trại tuyển quân và tập quân để chuẩn bị cho kế hoạch lâu dài chống quân Nguyên Mông, của nhà Trần. Tại trang trại này có cánh Đồng Quân là trại quân lính đóng và luyện tập hàng ngày, có chuồng voi, chuồng ngựa, có Cồn Tiền…Hiện nay, nhân dân làm thuỷ lợi hay đào giếng, còn bắt gặp những binh khí như gươm, giáo, bạt xà mâu và hàng đống tiền cũ.

Có sự chuẩn bị chu đáo, nên năm 1285 khi quân Nguyên Mông, một mặt từ phía Bắc do Thoát Hoan chỉ huy kéo sang, một mặt từ phía Nam do Toa Đô từ Chăm Pa kéo ra, xâm lược nước ta lần thứ hai, khi quân Toa Đô kéo tới Nghệ An, đã vấp phải sự chống trả kịch liệt của nhân dân. Nhưng rồi có sự đầu hàng của Trần Kiện, một viên tướng nắm trong tay một vạn quân, nên quân Toa Đô đã kéo qua được Nghệ An ra Thanh Hoá. Trong cuộc kháng chiến anh dũng này, Hoan Diễn mà cụ thể là Diễn Châu đã đóng góp khá nhiều xương máu và công sức của mình cho nền độc lập của dân tộc. Có một người nổi lên, lịch sử ít nhắc tới, song tại Nghệ An và Thanh Hoá có hàng chục đền thờ, đó là Sát Hải đại vương Hoàng Tá Thốn.

Hoàng Tá Thốn, tên chữ là Hoàng Minh, mỹ hiệu là Tô Đại Liêu, sinh quán và chính quán ở thôn Vạn Phần, nay là xã Diễn Vạn, trú quán thôn Vạn Tràng, nay thuộc xã Long Thành, huyện Yên Thành. Cha mất sớm, mẹ Thốn, người họ Trương ở Lý Trai.

 Sinh ra và lớn lên ở miền sông biển, Hoàng Tá Thốn có sức khoẻ hơn người, vật giỏi, võ giỏi, trai trong vùng không ai địch nổi, đặc biệt là có tài bơi lội. Bà con Diễn Vạn truyền rằng, Thốn đi lại dưới nước như trên đất bằng vậy. Lớn lên mẹ Thốn cũng cho theo học với một ông đồ trong vùng để con kiếm năm ba chữ.

 Tưởng rằng với sức khoẻ, với tài bơi lội, với trí thông minh hơn người, Hoàng Tá Thốn chỉ làm bạn suốt đời với ruộng đồng sông nước, nhưng rồi nước nhà bị quân Nguyên Mông xâm lược. Nghe theo lời kêu gọi cứu nước của triều đình, của các bô lão sau hội nghị Diễn Hồng, Hoàng Tá Thốn tạm rời quê hương lên đường đánh giặc. Buổi nhập ngũ, Thốn chỉ vận có chiếc khố.

 Những ngày đầu, ông được sung vào đội bộ binh. Nhưng về sau, một viên chỉ huy thấy Thốn thông minh, lắm cơ mưu và có tài bơi lội, “tiến cử” lên Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn. Trần Hưng Đạo liền cho Tốn sung vào đội thuỷ thiện chiến của nhà Trần, sau đó lại được chiêu làm “Nội thư gia”, giúp việc binh thư cho Trần Hưng Đạo.

Bao phen xông pha chiến trận, Hoàng Tá Thốn cùng nhiều chiến hữu của mình, đã nhiều lần làm cho quân địch vô cùng khốn đốn. Cách đánh địch của Thốn là lặn xuống sông, đục ngầm thuyền địch, cứ đục xong một lỗ liền lấy giẻ nút lại. Khi chiếc thuyền địch đã bị đục nhiều lỗ rồi, mới cùng một lúc, một số người ngoi lên mặt nước nhảy vào thuyển đánh giáp lá cà với địch, một số người khác vẫn lặn dưới nước, tút các dẻ ra, thế là nước ộc ộc vào thuyền, quân địch lao nhao, đứa bị chết chém, đứa bị chết chìm.

 Xông pha bao trận đánh thuỷ, nhưng lừng lẫy hơn cả là cuộc chiến trên sông Bạch Đằng năm 1288. Về việc này, văn bia của họ Hoàng ghi như sau: “Đời vua Trần Nhân Tông, năm Thiệu Bảo, Mậu Tý (1288), tướng Nguyên là Thoát Hoan và Ô Mã Nhi sang xâm lược Thăng Long. Tướng quân Hoàng Tá Thốn được cấp ấn phù thống lĩnh hàng vạn quân cùng tàu thuyền phục kích sông Bạch Đằng để cản phá quân giặc”. Còn Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn thì dùng tượng binh giáp kích.

 Trận đánh diễn ra như thế nào, sử đã ghi rõ. Có điều Hoàng Tá Thốn vẫn dùng chiến thuật đục thuyền. Quân Nguyên Mông thua to. Thoát Hoan chạy trốn. Ô Mã Nhi bị bắt sống. Tin báo tiệp về đến triều đình, vua Trần Nhân Tông phong cho Hoàng Tá Thốn là “Sát Hải Chàng Lại Đại Tướng Quân”, cấp cho huyện Tống Sơn, nay là huyện Hà Trung (Thanh Hoá), làm điền trang.

 Bốn năm sau, “Kỷ Sửu, năm thứ 5 (1289), mùa xuân tháng 2 (triều đình) sai nội gia thư là Hoàng Tá Thốn đưa bọn Ô Mã Nhi về nước, dùng kế của Hưng Đạo Vương, cho người giỏi bơi lội sung làm phu thuyền, ban đêm dùi thuyền cho chìm, bọn Ô Mã Nhi đều chết đuối cả”.

 Quân Nguyên ra khỏi bờ cõi, Hoàng Tá Thốn được Triều đình nhà Trần cho làm Tướng thống lĩnh các đạo thuỷ binh giữ vùng duyên hải.

Từ ngày làm tướng, coi giữ miền biển, Hoàng Tá Thốn đã tiêu diệt bao đám giặc biển, giữ yên cuộc sống cho nhân dân ven biển. Cùng với tài bơi lội và đục thuyền của mình, ông đã huấn luyện truyền dạy cho bao quân sĩ, về sau trở thành những kẻ thiện chiến nơi sông nước.

 Những lần quân Chiêm Thành sang quấy nhiễu bằng đường thuỷ với tài ba của mình và sức mạnh đánh thuỷ của đội quân do ông chỉ huy, quân Chiêm Thành đều phải quay thuyền trở lui.

 Một lần ông đi tuần thú ven biển ở Thanh Hoá, đến huyện Hoằng Hoá, phủ Hà Trung, tại cửa Hà Lộ, đúng ngày mồng Một tết Nguyên Đán, bị bệnh đột ngột, ông từ trần. Triều đình biết tin, cho thuyền rồng chở linh cữu về an táng tại Vạn Phần, là nơi ông đã ra đời và tặng ông: “ Trung dũng bảo dực trung hưng, hộ quốc tí dân, Sát Hại đại tướng quân, Thiên Bồng nguyên soái chi thần”.

  Không chỉ ở Vạn Phần, ở Vạn Tràng mà nhiều nơi khác có đền thờ ông, trong đó có đền Hà Lộ, (thuộc xã Hoằng Hoá bây giờ) là nơi ông qua đời.

Tại đền thờ ở Vạn Tràng có câu đối:

                 Triệu ứng hoàng ngưu thiên hữu mệnh

                Khấu trừ Ô Mã quốc lưu ân.

Tạm dịch:

                Điềm ứng trâu vàng trời có mệnh

                Diệt trừ Ô Mã nước ghi công

                 Đời Trần còn in trên đất Nghệ An và Diễn Châu 2 dấu vết lịch sử nữa.

- Cuộc thân chinh của vua Trần Anh Tông đi đánh Chăm Pa vào năm 1311 mà chúng tôi đã nói trên. Cuộc hưng bình này được một báo và âm phú của các vị thần biển ở Cửa Còn. Các vị thần biển này đã được nhân thế hoá, lịch sử hoá gồm 4 mẹ con là Thái hậu Dương Nguyệt Quả (vợ vua Tống Độ Tông), Hoàng hậu của Đế Bình và 2 công chúa, con của Dương Nguyệt Quả và Tống Độ Tông. Tráng quân Nguyên Mông xâm chiếm đất nước, lên đường cùng với chúa tôi và 8000 tướng sĩ ra biển cả, thì bị gió bão dìm chết, chỉ còn 4 người bám vào một mảnh ván và sóng gió đưa dạt vào cửa Cờn là thoát được. Biết được sự tích, Trần Anh Tông sai làm lễ cúng tế. Ra đi mặt biển yên lặng, vào Chăm Pa đánh thắng. Trở về vua phong là Quốc gia Nam Hải Đại Càn Thánh Nương, sai quan hữu ty lập đền thờ, tuế thì cúng tế. Từ đó đền Cờn với thần tích như trên, được tiếng là rất linh thiêng, nên không chỉ ở Nghệ An mà cả nước có rất nhiều đền thờ, gọi tắt là Tứ Vị Thánh Nương. Ở Diễn Châu hơn chục làng có đền thờ Tứ Vị Thánh Nương.

 - Năm 1334, Ai Lao đánh phá phía Tây Nghệ An. Trần Minh Tông Thượng hoàng phải thân chinh đi đánh. Sai ông Nguyễn Trung Ngạn sung chức phát vận sứ vào Thanh Hoá để vận lương trước. Thượng hoàng đem quân vào sau. Khi đại quân vào đến Kiềm Châu (thuộc huyện Tương Dương ngày nay), mới giao chiến một số trận, quân Ai Lao biết đối phó không được, chạy cả.

 Thượng Hoàng bèn sai ông Nguyễn Trung Ngạn làm bài bia khắc trên núi tại thôn Trầm Hương để ghi công. Đó là bia Ma Nhai gần thành Nam, huyện Con Cuông ngày nay.

 Năm sau, Ai Lao lại qua Tương Dương đánh phá Minh Tông Thượng hoàng lại ngự giá thân chinh lần nữa. Lần này vất vả hơn.

 Nói điều này để thấy nhân dân Nghệ An và Diễn Châu nhiều lần khổ cực về chiến tranh biên giới không chỉ phía Nam mà cả phía Tây. Cứ mỗi lần Ai Lao và cả Bồn Man sang quấy phá, Triều đình lại phải hưng binh và thường phải qua Nghệ An và Diễn Châu. Trai tráng phải sung binh, lương thực phải cung cấp, đó là điều không thể tránh khỏi.

 Từ giữa thế kỷ XIV trở về sau, thế lực nhà Trần yếu dần. Trong nước thì nông dân khởi nghĩa và giặc cướp nổi lên tứ tung. Ngoài nước thì quân Chăm Pa luôn vào cướp phá. Tháng 12 âm lịch, năm 1376, vua Trận Duệ Tông tự làm tướng kéo quân đi đánh Chăm Pa. Mùa xuân năm 1377 kéo vào thành Chà Bàn, bị thảm bại. Trần Duệ Tông tử trận. Ngự Cầu Vương Trần Húc đầu hàng Chăm Pa. Vừa thắng, chúng tràn ra lấn át Đại Việt. Năm 1378, Chăm Pa đưa Ngự Hầu Vương Trần Húc ra “ cướp Nghệ An, tiềm xưng tôn hiệu để chiêu dụ nhân dân. Có nhiều người nhận mệnh lệnh của giặc”. Tên nguỵ này lập triều đường tạo Long Môn (Nam Đàn) lấy đây làm “kinh đô” (nguỵ) để chống lại nhà Trần. Cả Nghệ An và Diễn Châu lúc đó đều sống dưới sự đô hộ của Chăm Pa. Phải đến năm 1380, nhân chiến thắng của Hồ Quý Ly đánh tan Chế Bồng Nga trên sông Ngu Giang (Thanh Hoá), quân dân Nghệ An ồ ạt tấn công thành Long Môn. Quân Chăm Pa tan vỡ, Trần Húc chạy trốn.

 Thế lực nhà Trần đã yếu, lại thêm nội bộ rối ren. Hồ Quý Ly ra sức gây thế lực riêng, ngày càng mạnh, đến năm 1400 thì chiếm ngôi.

Triều đại nhà Trần chấm dứt, nhưng đã để lại trên đất Diễn Châu, đất Nghệ An nhiều dấu vết lịch sử.

 b, Nhà Hồ (1400- 1407)

Hồ Quý Ly lên ngôi vua, đổi tên nước là Đại Ngu ban hành nhiều chính sách tiến bộ, như hạn điều, hạn nô, dùng chữ Nông, phát hành tiền giấy,…Nhà Minh lăm le xâm lược nước ta, Quý Ly nhường ngôi cho con là Hán Thương, lui vào làm Thái Thượng hoàng, cùng lo việc nước.

 Đối với xứ Nghệ, Hồ Quý Ly đổi phủ Diễn Châu thành phủ Linh Nguyên. Trước đó, khi cầm quyền chính nhà Trần năm 1397, ông đã đổi Nghệ An thành trấn Lâm An, Diễn Châu thành trấn Vọng Giang. Hồ Quý Ly muốn xây dựng Nghệ An thành một hậu phương chiến lược. Ông cho nạo kênh Son, kênh Sắt, kênh Đa Cái, lập phòng tuyến sông Cấm, xây dựng căn cứ Bàu Đột (Quỳnh Lưu), dựng thành Hồ Vương trên núi Đại Huệ (Nam Đàn).

 Tại Diễn Châu, Hồ Quý Ly, trong những ngày còn là Quốc công nhà Trần, đã cho nạo vét Kênh Sắt. Lệnh ban ra phải hoàn thành rất gấp. Dân phu phải làm ngày đêm. Vất vả, đói khổ, bị đánh đập tàn nhẫn, dân phu ta oán nhiều. Bao triển thần, trấn thần được Hồ Quý Ly cử đến công trường để chỉ huy, đốc thúc, song vẫn gặp nhiều khó khăn.

 Hồ Quý Ly phải cho con gái mình là Thái Dương công chúa vào để phủ dụ, động viên. Công chúa đã cầm đàn tranh gảy những khúc trầm bổng, du dương để khuyến khích quân phu. Nhưng tiếng đàn của công chúa đã bay vào trong gió, nhường cho lời oán trách, kêu rên của dân phu đang văng vẳng khắp công trường. Có lẽ nàng thấy công việc của cha mình chưa tranh thủ được lòng dân. Nàng đi khắp công trường để xem xét tình hình. Cảnh gian khổ, đói rách đang bày ra khắp nơi.

Thương dân phải phu đài tạp dịch lầm than, nàng đã bày cho dân hái rất nhiều lá cây dầu mỡ chó, ném xuống dòng Kênh. Lá cây này nhỉ ra một thứ nước, đỏ như huyết. Nàng bịa ra một tin: đào phải cổ một con rồng! Rồng quằn quại, rồng oán, nên kênh không đào được.

 Việc ấy bị phát giác. Hồ Quý Ly đã giết con gái của mình để trấn tĩnh tinh thần và cũng để hăm doạ dân phu, một cách không thương tiếc. Vô cùng thương tiếc cái chết của Thái Dương công chúa, sau này trong một bài vè, nhân dân đã ghi những lời chân thành, thảm thiết:

                                 Sao mà có Trần Quốc công

                                Giết nàng thục nữ oan lòng sự con

                                Thương nàng phận gái thơ non

                   Mới mười sáu tuổi vừa tròn bóng trăng

                                Tay cầm chén rượu ban trăng

Cung đàn nàng gảy khi năng khi rời

Thương nàng lắm lắm nàng ơi

Bởi vì Kênh Sắt đào rồi không xong

Giết con mà lấy uy lòng

Oan con con chịu mà sông không thành…

Cũng tại Diễn Châu, Hồ Quý Ly cho xây thành Đông Lũy hay còn gọi là thành Trài. Thành Trài nằm trên đất xã Diễn Phong và Diễn Hồng ngày nay. Thành Trài xây dựng trên một khu đất khá cao, có sông Cổ Hạc bao quanh, cách cửa Vạn Phần 2 km. Thành xây theo hình vuông với chu vi 1600 mét. Tường thành được xây dựng bằng 2 lớp đá thẳng đứng, cao gần 3 mét. Đá lấy từ núi Trơ sau có thêm đá sò. Có sông Cổ Hạc làm thành cái hào tự nhiên bao ba phía Tây, Nam, Đông; chỉ có phía Bắc phải đào hào. Thành có 2 cửa: Tiền và Hậu. Muốn vào cửa Tiền phải qua một cái cầu bắc qua sông Trài gọi là cầu Trài.

 Rõ ràng thành Trài là một căn cứ quân sự, tuy không có núi non che chắn, song thành Trài nằm ở vị trí quan trọng, kiểm soát được đường thiên lý trước kia và cả mặt biển, mặt đồng bằng ở phía trên.

 Có lẽ vào cuối thế kỷ XIX, thành Trài chỉ là một cái đồn lập nên để án ngữ cửa sông Bùng- cửa Vạn. Khi đã lật đổ nhà Trần, Hồ Quý Ly tăng cường lực lượng quân sự, chuẩn bị quốc phòng để chống lại âm mưu xâm lược của nhà Minh, đã cho xây dựng đồn Trài thành một cái thành với hào lũy vững chắc và quy mô như vừa nói trên.

 Trước sự xâm lược của nhà Minh, mặc dù có tinh thần quyết chiến, Hồ Quý Ly đã không bảo vệ được bờ cõi giang sơn cũng như cơ nghiệp của mình. Kênh Sắt đào vét dở dang, thành Trài bị quân Minh chiếm đóng. Chúng cho sửa sang, củng cố thêm thành một căn cứ quân sự kiên cố, nhằm thực hiện âm mưu xâm lược lâu dài đất nước ta.

Thời Hậu Trần, Đặng Dung và Nguyễn Cảnh Dị trong những ngày phò Trần Trùng Quang, đã đánh giết được tướng ngụy giữ thành lấy lại được thành này, tập hợp lực lượng kháng chiến chống quân Minh khá đông đảo. Nhưng rồi cuộc khởi nghĩa của Trần Giản Định và Trần Trùng Quang khi mà Trương Phụ kéo sang đàn áp cũng thất bại. Trương Phụ đã dùng thành này làm đồn binh đồng thời làm lỵ sở của Diễn Châu, khống chế cả vùng Bắc Nghệ An và Nam Thanh Hóa.

 III- Diễn Châu từ đầu thế kỷ XV đến giữa thế kỷ XIX

1.       Nghĩa quân Lam Sơn trên đất Diễn Châu:

Năm 1418, Lê Lợi dấy binh từ Thanh Hóa. Tuy có lúc thắng lúc thua, 6 năm trời trôi qua, lực lượng kháng chiến không sao tiến nhanh lên được. Tháng 9 năm 1424, Lê Lợi nghe theo lời Lê Chích, kéo quân vào Nghệ An “ để làm chố đứng chân rồi dựa vào đấy để lấy nhân lực, tài lực; sau sẽ quáy cờ trẩy ra Đông Đô thì có thể tính xong được việc dẹp yên thiên hạ”. Lê Lợi khen là phải. Bởi Nguyễn Chích đã đề ra cả một kế hoạch mang tính chiến lược cho cuộc khởi nghĩa.

 Vào Nghệ An, nghĩa quân Lam Sơn đã làm ngay “ Trận Bồ Đằng sấm vang chớp giật”, rồi “Miền Trà Lân trúc chẻ tro bay”.

Hạ được thành Trà Long (tức Thành Nam ở Con Cuông) Lê Lợi cử tướng Đinh Lễ đem hơn 1000 quân về đóng ở Động Đình thuộc sách Quy Lai tức vùng Phúc Thành, Hậu Thành, Lăng Thành….bây giờ.

 a, Những người con ưu tú của Diễn Châu tham gia nghĩa quân Lam Sơn.

Về đóng ở vùng này, Đinh Lễ liền chỉnh đốn quân ngũ, xây dựng đồn lũy, tuyển thêm binh lính, rèn thêm vũ khí, thu dụng những người yêu nước và có tài năng. Nhiều người con ưu tú của Diễn Châu đã xung phong đứng dưới cờ nghĩa và có người qua chiến đấu trở thành võ tướng có tên tuổi của nghĩa quân Lam Sơn, như:

 - Nguyễn Triệt ở thôn Yên Sở, vốn là người Tống Sơn (Thanh Hóa) có nhiều công trong việc vận chuyển lương thực. Niên hiệu Thuận Thiên, tức Lê Lợi lên ngôi, được phong Tả Đô đốc Dương Sơn hầu, trấn giữ các vùng Nghệ An, Thuận Hóa, Quảng Nam. Đời Lê Thánh Tông ông về Yên Sở lập ấp, mở đồn điền ( theo thần tích).

 - Vũ Nghiêm, người làng Tràng Thân, xã An Phố, lúc trẻ thông minh giỏi võ, tính tình cương trực. Nghe tin Lê Lợi mở nước, đã tập hợp nghĩa quân giúp vua. Khi ông mất, dân làng lập đền thờ (theo thần tích).

 - Lê Đại Đạo ở làng Mỹ Lý (xã Diễn Kỷ) có công trong việc đánh quân Minh, được Lê Thái Tổ phong chức tước gì không rõ ( thần tích nói ông được phong tước Quân công ?).

 - Võ Phúc Tuy, người làng Hậu Luật, người đầu tiên trong làng tham gia quân ngũ Lam Sơn, võ tướng của Lê Lợi, có công trong cuộc vây thành diệt viện ở Diễn Châu, được Lê Lợi phong tước Hùng Lễ bá ( theo gia phả).

 - Cao Nhân Tối, người thôn Phượng Lịch, xã Đào Hoa, nay là Diễn Hoa, cũng tham gia nghĩa quân Lam Sơn, có nhiều công, được phong chức tước gì không rõ. Dân làng lập đền thờ (theo gia phả).

 - Nguyễn Ba Lai, người làng Đăng Cao (nay thuộc xã Quỳnh Giang) có nhiều công lớn, được vua Lê ban chức Thái phó Thuận quận công. Có người cho ông chính là Lê Lai liều mình cứu chúa (xem NVDC).

 b, Bao vây thành Diễn Châu, diệt đoàn quân cứu viện của Trương Hùng.

Khi thế lực đã mạnh, nghĩa quân Lam Sơn mưu đồ giải phóng Diễn Châu để chặn đường tiếp tế của quân Minh từ Đông Đô, từ Thanh Hóa vào và đối phó với việc triển khai lực lượng của địch ở thành Nghệ An,…Được nhân dân vùng Diễn Châu ủng hộ triệt để, chưa đầy sáu tháng cả vùng nông thôn lắm của nhiều người, đã lọt vào tay nghĩa quân. Quân địch chỉ còn cố thủ trong thành Diễn Châu.

 Tháng 6 năm 1925, Lê Lợi quyết định đánh thành Nghệ An và bao vây thành Diễn Châu. Tướng Minh giữ thành Diễn Châu lúc đó là Tiết Tụ. Thấy thế nguy, Tiết Tụ xin cứu viện. Bọn giặc liền phái Trương Hùng đem một đạo quân với 300 chiến thuyền từ Đông Quan (Hà Nội) cùng với quân lương, vũ khí vào tiếp ứng cho thành Diễn Châu. Được tin ấy, Lê Lợi liền hạ lệnh cho Đinh Lễ đánh thành diệt viện.

 Đinh Lễ liền tăng thêm quân và vũ khí, bao vây chặt thành Diễn Châu, đồng thời triển khai mai phục một số cánh quân ở cửa Vạn ( cũng gọi là cửa Vích) để chặn đứng viện binh địch. Đinh Lễ quyết tâm tiêu diệt chúng tại chỗ, không cho hai bên trong ngoài thành liên lạc được với nhau.

 Một buổi chiều, được tin viện binh đã tới, trong thành Đông Lũy, Tiết Tụ mừng rỡ, đốc quân hùng hổ xông ra, cố sức liều chết đón viện binh. Khi thuyền giặc kéo vào cửa Vạn, cả 300 chiến thuyền, tưởng rằng lực lượng của nghĩa quân không đáng kể, nào ngờ khi đã vào cả sông Bùng, gần sát chân thành, thì một tiếng pháo hiệu nổ vang, bốn mặt thành và hai bên bờ sông Bùng nơi nào tiếng hò reo của nghĩa quân cũng vang dậy. Gươm đao sáng loáng. Cuộc giáp chiến nổ ra. Quân Minh không đối phó nổi, thuyền giặc bốc cháy, xác giặc ngổn ngang, tiếng kêu thét, rên rỉ của giặc vang lên trong bão lửa. Bọn giặc còn lại trong thành cố sức xông ra, nhưng đều bị quân ta chặn đứng lại. Xác chết vương vãi, tên bị thương, tên sợ hãi dày xéo lên nhau chạy cả vào thành, đóng kín cửa lại.

 Thế là trong phút chốc, 300 chiếc thuyền chở đầy quân lương, vũ khí và binh lính của địch bị tiêu diệt. Đô ty Trương Hùng vét được một đám tàn quân chạy vội vàng ra biển, không dám ngoái cổ lại nhìn thành Diễn Châu đang nằm gọn trong biển lửa.

 Quanh thành Diễn Châu, hiện nay vẫn còn một số di tích ghi nhớ chiến công thưở bình Ngô. Từ cổng hậu đi ra phía Tây Bắc thành khoảng trăm mét có một công đất gọi là Cồn Trận. Gần thành có một cánh đồng rộng khoảng 6 mẫu Trung Bộ, mang tên là cánh Đồng Xương. Cách thành khoảng 400 mét về phía Đông nam có một cồn đất gọi là Cồn Ngô (hay Cồn Bình), bà con thường gọi là mả giặc Ngô.

 Đáng chú ý là cách thành Đông Lũy khoảng 5km theo đường chim bay về phía Bắc, có một làng nằm giữa hai núi đá là hòn Thè và hòn Hung, một bên làng là con sông Thai đi qua, một bên làng là cây cối rậm rạp. Nhận thấy làng này là một cứ điểm quân sự, Đinh Lễ đã cho một toán quân đóng tại đây. Với sự ủng hộ tích cực của bà con dân làng như cung cấp lương thực, cho trai tráng đứng dưới cờ, vận tải vũ khí, quân lương…mà Đinh Lễ đã làm nên chiến thắng ở thành Đông Lũy và sau đó trẩy quân ra Thanh Hóa, chế ngự Tây Đô…

 Thiên hại đại định, lên ngôi Hoàng đế, lúc luận công ban thưởng, Lê Lợi đã gửi tặng phẩm vật, ban cho dân nhiều ruộng đất, và cho làng được đặt tên là Cẩm Bào. Cái tên Cẩm Bào có từ đó.

 Tinh thần đối với nghĩa quân Lam Sơn còn ảnh hưởng mãi về sau với bà con Cẩm Bào (Diễn Châu) qua bài ca dao:

 Quê tôi ở đất Cẩm Bảo

Ai muốn đánh giặc thì vào quê tôi

Ăn trầu thì nhớ lấy vôi

Ai muốn đánh giặc nhớ thời vua Lê

                Đất Cẩm Bào lúc đó là đất làng Nhân Huống bây giờ, còn tại sao bây giờ Cẩm Bào lại ở sát đường quốc lộ 1, thì xin xem “Kho tàng truyện kể xứ Nghệ” tập I.

 2.       Diễn Châu thời Lê Sơ

Khởi nghĩa Lam Sơn toàn thắng, đất nước sạch bóng quân thù , Lê Lợi vua sáng nghiệp nhà Lê lên ngôi Hoàng đế ở Đông Đô, lấy niên hiệu là Thuận Thiên, đặt quốc hiệu là Đại Việt. Lê Lợi là một anh hùng dân tộc. Lên ngôi vua, chia nước ta làm 5 đạo: Nam đạo, Bắc đạo, Đông đạo, Tây đạo và Hải Tây đạo. Nghệ An và Diễn Châu thuộc Hải Tây.

 Dù là ông vua anh hùng và sáng suốt, song trong buổi đầu, bao việc nhà vua phải giải quyết và nội bộ đất nước không phải không có những rắc rối.

 a, Đền thờ Nguyễn Tông Vĩ ở làng Tràng Khê

Tại làng Tràng Khê, xã Diễn Hoa, có đền thờ Hành Khiển Nguyễn Tông Vĩ.

Nguyễn Tông Vĩ, người huyện Vĩnh Khang, phủ Trà Lân, một trong những khai quốc công thần của nhà Lê, giữ chức Tả thị lang bộ Binh. Là người tài giỏi, trung thực không a dua, lên ngôi vua, Lê Lợi cử ông làm Chánh sứ đi sứ Chăm Pa với nhiệm vụ dụ Quốc Vương Chăm Pa triều cống nhà Lê. Trước ngày lên đường, Nguyễn Tông Vĩ được thăng chức Hành Khiển.

 Mang theo vài chục tuỳ tòng vào nước Chăm Pa, sau những ngày hội kiến, công việc giao bang tốt đẹp, vua Chăm Pa nộp cống xưng thần.

 Trở về có lũ Lý Bình và Vương Khánh tụ tập bè đảng mấy nghìn người cướp bóc nhân dân, hoành hành trong trấn Nghệ An, làm cho đường giao thông tắc nghẽn. Vua Lê sai đại tướng Lê Thái lấy quân ở các xã, ấp vùng ven biển, mà ở Diễn Châu là các làng Đào Khê, Trương Nghĩa, Thắng Thượng, Thắng Hạ thuộc xã Đào Hoa và Giang Triều..vv..hơn vạn người gọi là Tráng binh, để trấn áp, tiêu diệt. Đoàn sứ giả hành khiển Nguyễn Tông Vĩ dẫn đầu cũng bị chúng cản đường, cướp bóc, hành hung. Nguyễn Tông Vĩ rút gươm chống cự lại, bị chúng giết ở xã Yên Khánh.

 Một đêm bọn giặc âm mưu cướp trại của tướng quân Lê Thái ở Bình Sa, Nguyễn Tông Vĩ báo mộng cho tướng quân Lê Thái biết, Lê Thái truyền lệnh toàn quân bày trận đợi giặc. Trận ấy, Vương Khánh bị chết trong đám loạn quân. Lý Bình vội ra sông gần đấy cướp thuyền chạy trốn, nhưng rồi bị chết đuối. Tướng quân Lê Thái, cảm ơn âm phù của ngày, mới lập miếu bên mộ phụng thờ, sai dẫn xã Yên Khánh bốn mùa cúng lễ. Vua Lê khen tấm lòng trung nghĩa của Nguyễn Tông Vĩ, phong làm Phúc thần.

 Số tráng binh trong mấy thôn nói trên ở Diễn Châu, cho rằng do Nguyễn Tông Vĩ âm phù mới đánh tan được quân giặc, mới được sống trở về quê hương, nhớ ơn đã lập đền thờ ông ở làng Tràng Khê, tôn là Đương Cảnh thành hoàng.

 Việc âm phù như thần tích nói, chắc là huyền hoặc cuộc bạo loạn , do Vương Khánh và Lý Bình chỉ huy. Trong sử sách không ghi, song có thể là có thật. Chúng ta coi đây là một dấu vết lịch sử đời Lê Sơ.

 b, Nhiều đồn điền được thành lập

Trong đời Lê Sơ chắc có nhiều dấu vết lịch sử nữa như đạo Khổng được truyền vào xứ Nghệ, vào Diễn Châu rộng rãi, sâu sắc; Triều đình quân phân lại ruộng đất; đời Lê Thánh Tông với chính sách khuyến nông cho các công thần, đại thần, quan chức được đem gia đình vào Thanh Hoá, Nghệ An,….chiêu dân lập ấp, mở đồn điền, khẩn hoang cày cấy. Tướng công Tạ Công Luyện lập ra Tộc đồn điền (đồn điền của họ Tạ) khai phá ở vùng Bút Điền- Lạc Sở; quận công Nguyễn Phúc Thiện khai phá ở vùng Thư Phủ- Bút Trận. Thủy tổ họ Tăng, họ Hoàng lập đồn điền Na Sở, khai phá ở vùng Quần Sở. Thuỷ tổ họ Bùi khai phá ở vùng Quân Điếm, tức làng Văn Hiến hiện nay, vv…

 Quần tức là cồn. Gần như khắp huyện Diễn Châu, đặc biệt là những xã ở tổng Thái Xá, Lý Trai,…xã nào cũng có cồn, “ ta thử kể: Cồn Lềnh, Cồn Cao, Công Thuê….(Diễn Lợi); Cồn Dung, Cồn Lim…(Diễn Thọ); Cồn Mụ, Cồn Nhà …(Diễn Bình); Cồn Đống (Diễn Cát); Cồn Mơi (Diễn Nguyên); Cồn Nương (Diễn Quảng); Cồn Thả, Cồn Nưa ( Diễn Liên); Cồn Anh (Diễn Xuân); Cồn Vồng, Công Đền, Cồn Long, Cồn Đụn, Cồn Chúa, Cồn Ràn, Cồn Ngà, Cồn Quắc ( Diễn Thái), vv…

 Từ những vùng đất ấy, các vị Triệu cơ đã tìm đến rồi dừng chân vỡ ruộng, khai hoang, dựng nhà, dựng cửa, lập đồn điền, lập lên làng xóm. Biết bao công lao vất vả, bài cảo tại nhà thờ họ Nguyễn thôn Vĩnh Thọ, xã Diễn Nguyên còn ghi:

 “ Sơn lâm khe hác, thị cao thị thâm, thảo mộc chi mậu, thú cầm cho đa….Phạt mộc khai hoang, sung tắc khê giang, bồi vi bình dã,…”Nghĩa là: “ Núi rừng khe hói, nơi cao nơi sâu, cỏ cây rậm rạp, thú cầm thật nhiều,….Chặt cây khai hoang, san lấp khe sông, biến thành đất phẳng”.

 Đúng xưa kia, Diễn Châu là vùng đất trũng. Cho đến gần đây ở Diễn Châu một số nơi mực nước ở đồng bằng thấp hơn mực nước biển. Dọc sông Tỳ Bà, sông Điển, cả vùng nằm trong một biển nước mênh mông, nhiều chỗ sâu tời 6,7 mét. Trên biển nước ấy, những cồn đất nổi lên như những con rùa khổng lồ. Do đó mà đời Lê sơ, các công thần, đại thần mới lập đồn điền ở Quần Điếm (Cồn Điếm), Quần Sở (Cồn Sở),vv…

 3.       Diễn Châu trong những năm Lê Mạc phân tranh.

Nhà Lê đến đời Tư Thành (Thánh Tông) là thời gian thịnh nhất. Đến đời Lê Duệ Tông (Uy Mục đế) 1505- 1509, thì nhà Lê bắt đầu suy biến. Từ đó các vua kế tiếp nhau toàn là những người chơi bời, tửu sắc, hung tàn bạo ngược, không chăm lo việc nước. Bấy giờ gian thần lộng hành, tham quan đục khoét. Nỗi oán giận của nông dân biến thành những cuộc khởi nghĩa nổi lên tứ tung mà sử cũ gọi là đạo tặc. Nội bộ tôn thất nhà Lê cũng lục đục, đánh lộn nhau. Trước tình hình ấy, Mạc Đăng Dung được giao cả binh quyền và chẳng bao lâu, năm 1527, giết Lê Ỷ, bắt Lê Thung nhường ngôi cho mình và giết luôn cả Thái hậu.

Một năm sau, con cháu nhà Lê và những người công thần của nhà Lê vùng dậy chống lại và dần dần gây thành cuộc nội chiến đẫm máu, kéo dài 60 năm (1533- 1592) diễn ra khắp cả nước, Diễn Châu cũng là một nơi phải chịu đựng cảnh nồi da nấu thịt ấy.

 Tháng 11 năm 1932, Nguyễn Kim, người trong phe cánh nhà Lê, nổi dậy chống họ Mạc ở đất Sầm Châu (Ai Lao), phía tây tỉnh Thanh Hoá. Biết rằng trong đất Nghệ An còn ẩn náu một người thuộc dòng dõi nhà Lê, Nguyễn Kim đã cho người vào dò la, cố tìm, để dựng lên làm chiêu bài cho cuộc trung hưng. Đó là Lê Duy Ninh. Đem Lê Duy Ninh về Sầm Châu, Nguyễn Kim tôn làm vua. Từ đó, thanh thế nghĩa quân mỗi ngày một lớn. Nguyễn Kim được phong là Thượng thụ Thái sư Hưng quốc công, đứng đầu việc trung hưng.

 Tại Hoan Diễn cũng có một số người mà cha ông đã chịu nhiều ơn mưa móc của nhà Lê cũng nổi lên hưởng ứng sự nghiệp “phù Lê diệt Mạc”. Trong số này có Nguyễn Cảnh Mô và Phan Công tích nổi tiếng hơn cả.

 Nguyễn Cảnh Mô lấy vùng Diên Tràng (Thanh Phong) làm nơi khởi sự. Còn Phan Công Tích thì lấy vùng Hào Kiệt và lèn Hai Vai làm căn cứ địa. Hai người là bạn đồng liêu, đồng hương, nay là đồng chí, thật ý hợp tâm đầu. Họ hăm hở đi mộ quân, lập trại đắp ụ, củng cố lại các thành cũ, dựng chỉ huy đài, luyện tập binh mã, sẵn sàng đối phó với quân mạc.

 Từ đó chiến trường đã diễn ra nhiều nơi trên đất Nghệ An, Mạc thắng Lê thua rồi Lê thua Mạc thắng, hai bên đánh nhau giằng co. Khói lửa liên miên. “ Các huyện, đồng ruộng bỏ hoang nhân dân đói khổ. Dịch tễ lại phát sinh, người chết đói đến gần nửa. Dân phiêu bạt hoặc tan tác vào nam ra Bắc. Trong cõi Nghệ An đìu hiu,vắng lạnh”. Có thể kể một trận diễn ra trên đất Diễn Châu như sau:

 Theo “Hoan Châu ký”, năm Ất Hợi 1557 tướng Mạc là Thạch quận công Nguyễn Quyện lại vào cướp Hoan Diễn. Lúc bấy giờ Lai quận công Phan Công Tích đang đóng đồn ở Quan Trung, bỗng thấy An quận công Lại Thế Khanh cho lĩnh cầm thư đến báo kế hoạch đặt phục binh để giáp công. Lai quận công y theo lời dặn, tức tốc kiểm điểm binh mã, tiến về hướng đông dàn quân mai phục. Nguyễn Quyện dẫn quân tới, gặp phục binh nổi dậy, bèn lui về phía trái, theo đường núi mà đi. Lai quận công thấy núi Lưỡng Kiên (tức lèn Hai Vai) nằm giữa một vùng lầy lội, chỉ có độc một lối ra vào, nghĩ rằng có thể dùng làm hiểm cứ, bèn đưa quân vào đóng ở đó. Nhân đó cấp báo cho hai trại Tấn quận công Nguyễn Cảnh Mô và An quận công Lại Thế Khanh cùng biết, giao hẹn cùng bí mật đánh kẹp địch. Bọn lính nhận lệnh ra đi.

 Quân Mạc đi tuần, biết được nơi đóng quân của Lai quận công, liền về báo cáo với đại tướng Nguyễn Quyện. Quyện sau khi xem xét tình thế đóng quân của đối phương, lấy làm lạ nói rằng: “ Lai quận công không biết dùng binh. Đâu có chuyẹn bỏ địch đấy không ngăn chặn, lại đem quân vào nơi tử địa mà gọi là hiểm cứ sao? Nay ta phải đánh gấp để thu toàn thắng, không cho viện binh đến kịp”. Nói rồi truyền lệnh ăn cơm và chuẩn bị khí giới. Đúng trống canh tư đêm ấy, Quyện cho quân lính đến vây chặt núi Lưỡng Kiên.

 Tảng sáng hôm sau, Nguyễn Quyện nói với mọi người rằng: “ Nơi đóng quân của Lai quận công là Lưỡng Kiên. “Lưỡng Kiên” có nghĩa là “hai vai” tức là không có đầu, như vậy là điềm có thể bắt được tướng cầm đầu”. Nói rồi, thúc quân đánh vào đồn sở của Lai quận công. Hai bên giáp chiến, quyết cùng nhau tử chiến, quân chết, xác nằm đầy đồng, máu đổ làm đỏ cả cánh đồng trùng. Biết là không thể địch được mà hàng thì nhục, Lai quận công bèn lấy dao đeo theo bên hông rạch bụng moi ruột ra và bảo với Quyện rằng: “Ruột gan ta đây, ngươi hãy xem cho biết”. Nói xong rồi chết. Quân lính của Lai quận công không có tướng cầm đầu chạy toán loạn, quân Mạc tha hồ chém giết. Sách “Hoan Châu ký” ghi tiếp: “ Nhân dân lúc này, mạnh ai nấy chạy, làng xã vắng tanh, không cách gì phân biệt đâu là đâu nữa”.

 Nhưng rồi vài hôm sau, trước sự tấn công để báo thù cho Lai quận Công Phan Công Tích của Tấn quận Công Nguyễn Mô, quân Nguyễn Quyện lại thua, phải kéo lên mạn ngược, rồi về Bắc. Cứ thế cuộc chiến tranh giằng co không chấm dứt, khói lửa liên miên, làm điêu tàn trăm họ, trong đó có nhân dân Diễn Châu.

 Cho đến 1592, Tiết chế Trưởng Quốc công Trịnh Tùng đem quân tiến đánh dữ dội ở ngoài Bắc, chiếm được thành Thăng Long, nhà Mạc đổ, chiến tranh Lê Mạc tạm kết thúc.

4.       Diễn Châu trong những năm Trịnh Nguyễn phân tranh

Sau cuộc hỗn chiến Lê Mạc hay còn gọi là Nam Bắc triều, tiếp đến cuộc cát cứ của hai tập đoàn phong kiến Trịnh Nguyễn. Hai tập đoàn này, vì quyền lợi ích kỷ đã gây ra cuộc huynh đệ tương tàn kéo dài từ năm 1627 đến 1672 mới chấm dứt. Trong cả thời gian dài dằng dặc đó, hai bên đánh nhau bảy đợt nhưng cuối cùng không bên nào thôn tính được bên nào, đành phải lấy sông Gianh làm giới tướng.

 Trong bảy lần hai bên tấn công nhau, có một lần quân họ Nguyễn đẩy quân họ Trịnh ra mãi bờ bắc sông Lam, chiếm lấy 7 huyện phía Nam sông Lam (Hà Tĩnh ngày nay). Thời gian từ 1655 đến 1660, sông Lam đã phải chứng kiến bao cuộc đánh nhau tơi bời, nhà cháy hàng trăm nóc, người chết hàng nghìn, xóm làng tan tác, đồng ruộng không ai cày. Diễn Châu tuy ở xã sông Lam dăm chục cây số, không phải là không chịu những cảnh đau thương.

 Nhân dân Diễn Châu, đàn ông hầu hết phải ra chiến trường, kẻ cầm gươm cầm giáo trực tiếp chiến đấu, kẻ phải làm  “dân công” tải lương, vũ khí, đắp hầm hào, thành quách, mà cũng không ít người phải bỏ mình nơi trận mạc.

Đặc biệt năm 1655, mùa hạ tháng tư, Nguyễn Phúc Tần ở Thuận Hoá sai nhiều tướng đem quân đánh châu Bố Chính. Thắng lớn, quân kéo thẳng đến Kỳ Hoa, quân Trịnh thua chạy về đóng ở An Trường (Nghi Lộc, tức rú Quyết ở thành phố Vinh hiện tại).

 Tháng năm, nhà Trịnh sai Khê quận công Trịnh Trượng thống lĩnh kéo vào Nghệ An để đánh trả thù. Đại binh vào đến Kỳ Hoa, quân Nguyễn tiến sát đến, “các quân thua chạy, bỏ hết quân nhu khí giới” (Toàn thư, trang 27, tập IV). Trịnh Trượng lại phải lui về An Trường. Thấy vậy, Tây Định Vương Trịnh Tác thân làm tướng, đem các dinh kéo vào tiến đánh, nhưng không làm cho quân Nguyễn núng thế. Mùa đông, Trịnh Tráng sai con út là Trịnh Toàn làm thống lĩnh đất Nghệ An, cho mở dinh gọi là “Tả dực nội quân” và ban cho ấn kiếm.

 Trịnh Toàn tức Ninh quận công là người có trí có nhân, am hiểu binh pháp, biết rõ việc quân. Vào Nghệ An, Trịnh Toàn liền cắt đặt lại các tướng, sai đi trấn giữ các cửa sông và các nơi hiểm yếu, tuyển thêm binh lính, tích trữ lương thảo, củng cố chắc chắn lại các thành trì.

 Thời gian này, Thành Trài ở Diễn Châu được tu sửa lại. Tương truyền nhân dân phải lên mãi hòn Trơ, Rú Sàng lấy đá về tu sửa thành. Công việc thật vất vả. Nên sau đó, Thành Trài có tên thành ông Ninh. Có đến hơn chục thành ông Ninh kéo dài từ Thanh Chương xuống Cửa Hội theo tả ngạn sông Lam và ven biển Nghệ An.

 Sử chép ông Ninh là người hậu đãi tướng sĩ và rộng rãi với quân dân, nên thu được nhân tâm. Trịnh Tạc nối nghiệp cha (1657) thấy vậy lấy làm nghi ngờ, bèn sai con là Trịnh Căn vào chia coi việc binh. Rồi sau đó vu cho tội mưu nghịch, gọi Toàn về kinh, hạ ngục giam cho đến chết.

 Dẫn vài cứ liệu lịch sử trong 3 năm (1655- 1657) để thấy chiến trận hai bên đã diễn ra khốc liệt như thế nào, tình hình chiến sự rối rắm ra sao và nhân dân Nghệ Tĩnh, trong đó có Diễn Châu, đã chịu bao gian nan, đau khổ về cảnh binh đao trong suốt cuộc hỗn chiến kéo dài nửa thế kỷ ấy.

 5.       Diễn Châu trong thế kỷ nông dân khởi nghĩa.

- Chúng ta đều biết do chính trị hà ngược của chúa Trịnh, sự bóc lột tàn bạo của bọn quý tộc địa chủ đã làm cho sản xuất đình đốn. Thêm vào đó, thiên tai lại xảy ra luôn luôn. Ví như năm 1713, sử cũ chép: “ Mùa xuân, trời hạn hán, giá lúa gạo cao vọt, dân gian phải ăn vỏ cây rễ cỏ, chết đói đầu đường xó chợ, làng xóm tiêu điều”. “ Mùa thu, lụt, đê Sơn Tây, Sơn Nam, Thanh Hoá đều vỡ, trôi hàng mấy vạn nóc nhà, nhân dân cơ cận”.

                 Các năm sau: 1718, 1724, 1727, 1731, 1737…cũng tương tự như thế. Nhiều “đám giặc” tức nông dân khởi nghĩa đã bùng ra khắp nơi. Năm 1738, Lê Duy Mật khởi nghĩa ở ngoài Bắc. Thất bại, năm 1749 Lê Duy Mật, chạy vào vùng thượng du Thanh Hoá. Nhưng cũng thất bại. Năm 1758, Lê Duy Mật chạy vào Nghệ An, lập doanh đô ở Trình Quang thuộc phủ Trấn Ninh, hàng vạn người ở Nghệ An đã đi theo Lê Duy Mật. Ngoài thành Trình Quang, ở thượng du Nghệ An còn có 16 đồn trại. Tại thành Hoàng Mật ở Giai Xuân (Tân Kỳ), ông đã lo xây dựng cơ sở kinh tế để tính kế lâu dài. Tháng 12 năm 1769, Trịnh Sâm sai Trấn thủ Nghệ An là Bùi Thế Đạt, người Diễn Châu, làm Thảo tặc đại tướng quân đem ba đạo quân tới đàn áp. Giờ đây lên hai xã Giai Xuân và Tân Xuân của Tân Kỳ, chúng ta thấy dân cư trú là người Thổ, nhưng gốc gác xa xưa của họ là người Diễn Châu. Số cư dân này do Bùi Thế Đạt đưa lên dắm những chỗ trước đây là nơi cư trú của những người đi theo Lê Duy Mật. Sau khi Lê Duy Mật lên hoả đàn tự vẫn, sợ triều đình tàn sát, họ phải trốn tránh, để lại bản làng hoang vu.

 Năm 1750, Nguyễn Hữu Cầu cũng khởi nghĩa ở ngoài Bắc. Sau những ngày tung hoàng khắp tứ trấn Đàng Ngoài nhiều phen làm cho quân quan triều đình sợ hãi, Lúc thất thế, đầu năm 1750 Nguyễn Hữu Cầu cũng chạy vào Nghệ An; các cụ già ở Diễn Châu truyền lại: khi bị Phạm Đình Trọng đem quân đánh đuổi, Nguyễn Hữu Cầu dã từ Đồ Sơn chạy vào Cửa Hiền (ở Diễn Trung). Từ Cửa Hiền, ông kéo số quân ít ỏi đi theo đường núi (ở xã Diễn Trung, Diễn An hiện tại) lên Kẻ Trằm ( Quang Trạch), Kẻ Hốp ( Xuân Sơn) thuộc xã Diễn Lợi bây giờ. Ông đã đóng quân ở Kẻ Trằm, Kẻ Hốp một thời gian. Tại đây, quận He được nhân dân Nho Lâm, Quảng Hà, Xuân Sơn, Ngọc Lâm, Đan Trung, Vĩnh Bình,…ủng hộ. Nhiều người tham gia nghĩa quân. Thấy thế lực lượng của nghĩa quân mới đặt chân đến Nghệ An đến Diễn Châu đã lớn mạnh, chúa Trịnh sai Bùi Thế Đạt đem quân đến đánh. Nghĩa quân Nguyễn Hữu Cầu đã giao tranh với quân của Bùi Thế Đạt một trận ác liệt ở Nho Lâm. Xóm Dinh ( nay là xóm Tự Do) là nơi Bùi Thế Đạt đóng doanh trại. Một bài ca ở Nho Lâm có những câu nói về cuộc giao tranh ấy như sau:

 …Không tin thì lên sống động Rú Mụa mà coi

Coi “giặc” quan quận, coi voi ông Bùng

Voi ông Bùng thì dừng ở Nẹ

“Giặc quan quận thì trẹ (trẽ) Mua Cua

Chước gì quan lớn mà thua!

Khi quân kéo sang Nghi Lộc để rồi qua Nam Đàn phối hợp với một đồng chí cũ là Nguyễn Diên đang hoạt động ở Thanh Chương, Nam Đàn; nhân dân Kẻ Trằm, Kẻ Hốp làm con đường có ghép đá để nghĩa quân qua ngàn Đại Vạc sang Nghi Lộc được dễ dàng. Bà con gọi đó là con đường Trèo, vết tích này vẫn còn.

 Năm 1777, tại Phủ Diễn Châu cũ, đời Hiển Tông Vĩnh Hoàng đế, niên hiệu Cảnh Hưng 38, sách “Nghệ An kỳ” của Bùi Dương Lịch ghi: “Ở huyện Đông Thành và Quỳnh Lưu có nhiều giặc cướp. Trấn thần là Huy quận công Hoàng Đình Bảo bắt được một tên tướng giặc, tự xưng là Trung thiên đại tướng quân”. Tướng giặc đó chính là lãnh tụ của nông dân khởi nghĩa.

 Tinh thần quật khởi của nhân dân Diễn Châu nói riêng, của toàn quốc nói chung, đã tạo điều kiện cho cao trào cách mạng nông dân to lớn do Nguyễn Huệ cầm đầu. Đâu phải dễ dàng mà Nguyễn Huệ đem quân lấy thành Nghệ An không gãy một mũi giáo, không tốn một viên đạn. Đâu phải tự nhiên, năm 1789, trong lần kéo đại quân ra tiêu diệt 29 vạn quân Thanh, chỉ trong vòng 10 ngày dừng lại ở Nghệ An, Nguyễn Huệ đã tuyển được 5 vạn quân. Đó là khí thế của nông dân đã từng bốc men trên ngọn lửa căm thù, muốn chôn vùi những ngày hắc ám. Đó là nhờ ở Nghệ Tĩnh có nhiều lò vật, Diễn Châu lúc đó có đến hàng chục lò vật. Nguyễn Huệ tuyển quân đâu phải tuyển từng người mà tuyển cả lò vật. Tuyển cả lò vật nên mới được nhiều quân tinh nhuệ trong một thời gian rất ngắn để sung vào đạo trung quân do đích thân Nguyễn Huệ chỉ huy. Đại thắng quân Thanh vào đầu xuân Kỷ Dậu, nhân dân Diễn Châu có góp phần.

 IV- Diễn Châu trong thời kỳ chống thực dân Pháp xâm lược và đô hộ nhân dân ta.

 1. Khởi nghĩa Giáp Tuất (1874) trên đất Diễn Châu

Trong lúc cuộc đấu tranh giữa sĩ phu yêu nước và nhân dân với Triều đình Huế nhu nhược đang diễn ra quyết liệt thì năm 1873, thực dân Pháp nổ súng đánh chiếm Hà Nội và các tỉnh đồng bằng Bắc bộ. Hành động tráo trở, ngang ngược của chúng càng làm tăng lòng căm phẫn trong nhân dân ta.

 Tại Nghệ Tĩnh, trước áp lực của nhân dân, Tổng đốc Tôn Thất Triệt phải họp văn thân, sĩ phu toàn vùng bàn kế hoạch chống Pháp. Trần Tấn (Thanh Chương), Đặng Như Mai (Nam Đàn), Trần Quang Cán tức Đội Lựu (Hương Sơn), Nguyễn Huy Điển (Thạch Hà),…những sĩ phu này chỉ đậu tú tài, được văn thân xứ Nghệ nhất trí cử làm bộ chỉ huy. Trần Tấn được tôn làm “An Nam đại lão tướng quân”. Ông về Võ Liệt mộ quân, tích trữ lương thảo. Sau lễ tế cờ xuất quân tại Rú Đài thôn Chi Nê (xã Thanh Chi) huyện Thanh Chương, các anh hùng nghĩa sĩ xa gần nô nức kéo về gia nhập nghĩa quân. Chỉ trong vòng 10 ngày, lực lượng nghĩa quân đã lên tới vài nghìn người. Lực lượng này được biên chế thành đội ngũ chỉnh tề.

Trần Tấn còn cho người đi về các phủ huyện bắt liên lạc với các nhóm nghĩa binh ở các địa phương. Vũ khí được cấp tốc sắm sửa. Tại Diễn Châu các lò rèn ở Nho Lâm ngày đêm hoạt động. Thợ rèn ở các làng trong vùng như Ngọc Lâm cũng được mời về để cùng với các thợ rèn Nho Lâm rèn đúc vũ khí cho nghĩa quân.

Sau khi làm chủ được một số huyện ở phía Nam, dưới sự chỉ huy của Trần Quang Cán và Nguyễn Huy Điển, thành Hà Tĩnh bị hạ, bộ tham mưu của nghĩa quân ở Nghệ An chia quân chủ lực ra làm hai đội. Một đội do Trần Tấn chỉ huy đánh chiếm thành Vinh. Một đội do Đặng Như Mai chỉ huy đánh chiếm các huyện phía Bắc, trong đó có phủ thành Diễn Châu. Theo một bài vè “Cố Bang đánh Tây” thì:

Quân ông Đội Đoang ra trước

Lấy Phủ Diễn những chầu tháng ba

Sau đó:

Tháng năm giờ dậu

Giữa ngày mùng ba

Tú Mai kéo quân ra

Tiếp vây thành Phủ Diễn

                Trước khí thế của nghĩa quân và hưởng ứng lời kêu gọi của nghĩa quân, nhiều thôn xóm ở Diễn Châu “lập điểm, rào đường, ngày đêm canh gác” vừa bảo vệ quê hương, vừa phối hợp với nghĩa quân truy quét những phần tử nấp dưới các chức danh, song âm mưu làm tay sai cho giặc. Phong trào chống Pháp này, nhân dân và cả sử sách gọi là “Bỉnh Tây sát tả” hay là “Sát tả yên lương”.

 Tại Diễn Châu, những làng xã có phong trào mạnh mẽ là Nho Lâm, Vạn Phần, Đông Tháp, Thừa Sủng, Cao Hậu Đoài, Mỹ Lỹ, Lý Trai, Phú Trung, Phú Đông, Tràng Thân, Thịnh Mỹ, Yên Lý, Mỹ Quan, Cẩm Bào…

                Phong trào dâng lên ồ ạt, tháng 7- 1874, Tự Đức thấy Hồ Oai không làm được sứ mạng được giao, thất bại trở về, đã dốc toàn lực để đè bẹp cuộc khởi nghĩa. Ngoài điều Tôn Thất Thuyết từ Sơn Tây về Thanh Hoá lấy thêm quân rồi tiến vào Nghệ An giải vây cho thành phủ Diễn Châu và thành tỉnh Nghệ An, đang bị bao vây, Tự Đức còn cử một số tướng như Lê Bá Thận, Nguyễn Đình Khoa đem quân cấp tốc ra Nghệ Tĩnh, đồng thời cử Phạm Tiến Lâm đưa hơn 1000 quân đóng giữ tuyến sông Gianh rồi cùng với tỉnh thần Quảng Bình là Đỗ Đệ đưa hơn 1000 quân lên bịt con đường từ Hương Khê vào Nam. Chưa hết, Tự Đức còn phái cả Khâm sai Nguyễn Văn Tường đem quân ra Nghệ Tĩnh để phối hợp tiễu trừ.

                 Trước sự tấn công của quân triều đình, Trần Tấn phải từ bỏ kế hoạch bao vây thành Nghệ An, đem quân lên Nam Đàn đóng đại đồn ở Thanh Thủy rồi Thanh Chương; cuối cùng phải bỏ chạy lên vùng Khắm Muộn (Lào).

                 Còn Đặng Như Mai, sau những ngày bao vây thành phủ Diễn Châu, được tin quân tiếp viện của quân triều do Tôn Thất Thuyết chỉ huy sắp kéo vào Nghệ An, đã cho nghĩa quân hạ một số đồn ở Hà Niệm Thượng, Hà Niệm Trung, Hà Niệm Hạ tại phía Bắc Hoàng Mai thuộc phủ Tĩnh Gia (Thanh Hoá), rồi đóng chốt ở Quỳnh Lưu. Nhưng khi quân của Tôn Thất Thuyết kéo tới, nghĩa quân đóng chốt không cản được. Quân triều vượt qua Yên Thành bây giờ rồi kéo xuống định bao vây diệt gọn nghĩa quân ở quanh thành phủ Diễn Châu. Biết được âm mưu ấy, Đặng Như Mai đã cho quân nống ra. Hai bên gặp nhau ở phía Nam xã Nho Lâm cũ, rồi đọ sức một trận dữ dội, quyết liệt. Chiến trường trải dài từ Nho Lâm lên đến gần Tràng Thân bây giờ. Chiến đấu suốt một ngày trời, máu và máu, chết và chết, xác quân triều, xác nghĩa quân nằm ngổn ngang khắp bãi sò Phủ Diễn. Cách đây không lâu, đi qua đường số I đoạn từ Thịnh Mỹ đến gần Diễn An, nhìn lên phía Tây, sát ngay bên vệ đường, ta thấy một cánh đồng Sò gò đống ngổn ngang, nhân dân gọi là đồng Nghĩa Dũng, bởi sau trận giao chiến hỗn độn nói trên, ở đó có hàng nghìn xác người vô tội đã vĩnh viễn nằm lại.

                 Không địch nổi cánh quân triều này, chiều tới Đặng Như Mai thu số nghĩa quân còn lại, kéo lên phía trên đánh chiếm Phủ Quỳ (Nghĩa Đàn). Song cố gắng cuối cùng ấy cũng không kết quả, ông phải rút về miền thượng Thanh Chương và sau đó bị bắt.

                 Thất trận, nghĩa quân kéo đi, nhiều làng ở Diễn Châu có người tham gia nghĩa quân hoặc đã tích cực hưởng ứng cuộc khởi nghĩa, bị tàn phá. Làng Nho Lâm bị đốt phá gần như hoàn toàn. Các làng Hữu Bằng, Vạn Phần, Vĩnh Lại, Trang Trung, Thanh Bích….nằm quanh thành phủ Diễn Châu cũng bị đốt phá. Làng Tràng Thân, làng Phú Trung, làng Đông Tháp, làng Tây Khê…cũng nhiều nhà bị đốt phá. Hàng trăm dân làng bị bắt bớ, chém giết, tù đày. Hàng trăm mẫu ruộng công, hàng nghìn quan tiền được góp lại, của những làng được gọi là “đồng loã với quân phản nghịch” bị cướp đoạt để đền bù cho giáo dân. Đó là chưa kể giặc Pháp đã lợi dụng nhược điểm của cuộc khởi nghĩa là “sát tả”, khoét sâu mối bất hoà giữa lương và giáo, gây nên bao cuộc trả thù đẫm máu ở Diễn Châu.

                 Cũng bài vè trên, đây là những câu về cảnh đốt phá làng mạc, giết chóc nhân dân:

….Giữa thành quân sĩ/kẻ bị chém, người bị đâm/Ngong lên Nho Lâm/Toàn thấy lửa cháy

Dòm xuống Cao Xá/Toàn thấy tro bay/ Tớ tớ thày thày/Lê đường mà chạy

Trời vang đất rậy/Kẻ van khóc đầy đường/Thực có rứa hay không/Cho hương lân ta sợ.

Kẻ quần tơ áo lụa/Rúc hết bụi hết bờ/Kẻ vạt (ném) trống quăng cờ/Người lia chiêng vứt giáo.

Kẻ có ba bảy bát gạo/Người có nhà năm bảy gian/Khóc khóc van van/Tha con mà chạy/Bỏ cơ đồ mà chạy…

Kẻ có cha có mẹ/Không dám nhận mà chôn/Kẻ có vợ có con/Không dám đem cất táng.

Nước sông Bùng lai láng/Sóng cửa Vạn mênh mông/Máu chảy mênh mông, hồn trôi dạ cá.

Thương thay một nỗi/Các xã ở quanh thành/Làng Vích làng Bùng/Xóm Lạng, xóm Hồng/Đứng ngái mà trông/Thấy cơn (cây) khô lá héo.

Bà già yếu đuối/Nằm chết bụi chết bờ/Con trẻ khóc bơ vơ/Đi bụi nào cũng có….

 Bài vè này là một chứng tích cụ thể, hùng hồn của bàn tay Triều đình nhà Nguyễn về việc tàn sát đốt phá những người yêu nước Diễn Châu trong cuộc khởi nghĩa Giáp Tuất (1874).

 Mặc dầu có một số hạn chế khó tránh trong điều kiện lịch sử lúc bấy giờ, song cuộc khởi nghĩa Giáp Tuất (1874) đã khẳng định dứt khoát mục tiêu vừa chống đế quốc vừa chống phong kiến của nhân dân ta ( Phen này quyết chống cả Triều lẫn Tây). Nhân dân Diễn Châu đã góp phần xứng đáng vào những trang sử chống Pháp xâm lược đầu tiên của quê hương xứ Nghệ.

 3.       Diễn Châu trong những năm Cần Vương chống Pháp.

a, Khởi nghĩa Nguyễn Xuân Ôn (1885- 1887)

Đêm ngày 5-7-1885, cuộc tấn công vào lực lượng chiếm đóng Pháp ở đồng Mang Cá do Tôn Thất Thuyết chỉ huy, thất bại. Kinh thành Huế thất thủ. Hàm Nghi xuất bôn. Vừa tới nơi hành tại, Hàm Nghi liền hạ chiếu Cần Vương (17-7-1885). Trước nạn nước, một làn sóng chống Pháp nổi lên sôi nổi khắp các miền đất nước. Nơi nào cũng có người mộ quân, quyên của, đặt điếm, rào làng,….mỗi người một khoảnh. Sang đầu 1886 các cuộc nổi dậy lẻ tẻ đã được quy tụ lại. Ở Hà Tĩnh, phong trào các huyện Hương Sơn, Hương Khê, Đức Thọ, Can Lộc, Thạch Hà đều quy tụ dưới ngọn cờ lãnh đạo của Phan Đình Phùng. Tại Nghệ An, phong trào ở các huyện Diễn Châu, Yên Thành, Quỳnh Lưu, Đô Lương, phía Tây Nghi Lộc đều quy tụ dưới ngọn cờ lãnh đạo của Nguyễn Xuân Ôn.

 Nguyễn Xuân Ôn đã từng làm Hàn Lâm viện biên tu, Tri phủ Quảng Ninh (Quảng Bình), Đốc học Bình Định rồi giám sát ngự sử, Án sát Bình Định, Án sát Quảng Ngãi, Án Sát Quảng Bình,…Là một nhà nho cương trực, khảng khái, giàu lòng yêu nước thương dân, Nguyễn Xuân Ôn không nỡ ngồi yên trước cảnh giang sơn bị tàn phá, nên đã gửi nhiều điều trần lên Tự Đức, tâu trình kế hoạch giữ nước. Ông dứt khoát chủ trương không ký hoà ước với Pháp, kiên quyết phản đối mọi chủ trương hoà nghị nấp dưới chiêu bài: “ thủ để hoà”, “chống giặc duy thủ là hoà”. “chiến không bằng hoà”. Ông cũng phản đối chủ trương nhờ cậy thế lực bên ngoài. Ông cho rằng:

Nước mình, mình phải lo toan lấy

Sông núi nơi nơi có luỹ hào.

                                                                                (Cảm thuật IV)

Tự Đức không nghe, đã cách chức ông. Rời con đường hoạn lộ, về quê, ông bắt mối hiền tại, xây dựng căn cứ chống Pháp ở vùng Đồng Thông, nay là xã Đồng Thành (huyện Yên Thành). Tháng 7-1875, Hàm Nghi xuất bôn, xuống chiếu Cần Vương như đã nói trên, ông liền hưởng ứng. Ông được hành tại phong là Tổng thống quân vụ đại thần. Mùa đông năm 1885, ông làm lễ tế cờ ra quân tại vườn Mới làng Quần Phương, ban bố 8 điều lệnh của đội “ Cần Vương báo quốc”.

b, Những người Diễn Châu trong bộ chỉ huy

Trong bộ chỉ huy của Nguyễn Xuân Ôn, chiến đấu dưới cờ khởi nghĩa của Tiến sĩ Nguyễn Xuân Ôn, ngoài Phó bảng Lê Doãn Nhã ở Yên Thành, Tiến sĩ Nguyễn Nguyên Thành ở Đô Lương,…tại Diễn Châu chúng ta thấy có:

 - Trần Quang Diệu ( 1848- 1907), người làng Bút Trận, đỗ Cử nhân, làm Tri huyện Tùng Thiện (Sơn Tây) bất mãn với sự nhu nhược của Triều đình nhà Nguyễn, ông cáo quan về quê. Hưởng ứng chiếu Cần Vương của Hàm Nghi, ông được hành tại phong là An Tĩnh quân thứ thương biện quân vụ, sau thăng Nghệ An tỉnh Bố chánh kiêm An Tĩnh quân thứ tán lý quân vụ, cùng với Nguyễn Xuân Ôn tổ chức việc đánh Pháp ở Nghệ An (Xem phần NVDC).

- Đinh Nhật Tân ( 1836- 1887), người làng Thư Phủ, đỗ Cử nhân, đã từng làm Tri huyện, Tri phủ rồi giám sát ngự sử ở Huế với Phan Đình Phùng. Hàm Nghi xuất bôn, ông theo không kịp. Về quê thấy Nguyễn Xuân Ôn đang chiêu tập dân xã thành lập đội “Cần Vương báo quốc”, ông đến giúp sức. Ông được hành tại phong là Hồng lô tự khanh tham biện Nghệ Tĩnh nhung vụ, lo việc binh lương cho nghĩa quân Nguyễn Xuân Ôn (Xem phần NVDC).

 - Lê Trọng Vinh (1837- ?), người làng Ngọc Lâm, nay thuộc xã Diễn Lợi. Đi lính, giỏi võ, ông đã từng tham gia chiến đấu bảo vệ kinh thành, rồi theo vua Hàm Nghi ra Sơn phòng Quảng Trị. Về quê, ông mộ quân gia nhập cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Xuân Ôn. Ông được nghĩa quân cử giữ chức Đề đốc (Xem phần NVDC).

- Vũ Thọ là Bá hộ ở xóm Đông Hà làng Vạn Phần. Là người trọng nghĩa khinh tài lại có lòng yêu nước, tham gia nghĩa quân, ông đem toàn gia sản hiến cho nghĩa quân. Ông được Nguyễn Xuân Ôn cử giữ chức đốc binh. Vợ ông là Hoàng Thị Thơm cũng tham gia việc nghĩa (xem phần NVDC).

 - Ngô Sĩ Từ, người làng Mỹ Lý, nay thuộc xã Diễn Kỷ. Là người văn võ có tài, thi mãi không đạt. Tham gia nghĩa quân, ông được Nguyễn Xuân Ôn cử giữ chức lãnh binh. (xem phần NVDC).

 - Nguyễn Thứu: Vốn là lý trưởng làng Đông Tháp, nay thuộc xã Diễn Hồng. Có chiếu Cần Vương, ông tổ chức trai làng thành đội dân vệ, ngày đêm luyện tập, sau đem toàn bộ đội dân vệ ấy gia nhập nghĩa quân Nguyễn Xuân Ôn. Ông được Nguyễn Xuân Ôn giao giữ chức lãnh binh.

- Đậu Vinh ở Vĩnh Lai nay thuộc xã Diễn Phong. Có chiếu Cần Vương, ông cũng vận động tổ chức trai tráng trong làng thành đội tráng binh, sau đem toàn đội tráng binh gia nhập nghĩa quân Nguyễn Xuân Ôn. Tham gia các trận đánh, lập được nhiều công. Nhân dân Vĩnh Lại đã đổi tên làng mình là Đậu Vinh.

 Ngoài ra còn có thể kể đến Đốc Chẹm, Đoàn Giáp ở Nho Lâm, Đốc Thân ở Hạnh Kiều, Vũ Đạo (em Vũ Thọ) ở Vạn Phần, Nguyễn Bá ở Văn Vật, Nguyễn Viêng ở Thừa Sủng, Đốc Xây ở Quảng Hà, Đề Thắng ở Thịnh Mỹ, Đề Xe ở Trung Phường, Nguyễn Trung Tỉnh ở Vân Tập, bá hộ Kiền ở Vạn Phần….

 Cờ nghĩa vừa dựng lên, nghĩa dân nô nức hưởng ứng. Người có của góp của, người không có của góp công. Nhiều phú hào trong huyện đem tiền của đến ủng hộ nghĩa quân. Các lò rèn vũ khí ngày đêm hoạt động, như lò rèn Đốc Giáp ở Nho Lâm, lò rèn của bá hộ Kiền ở Vạn Phần, của Đốc Sây ở Quảng Hà….

 Bên cạnh các đội nghĩa binh được tổ chức chặt chẽ, Nguyễn Xuân Ôn rất coi trọng các đội dân binh. Ông cho người đi tổ chức các đội “động làm lĩnh, tĩnh làm dân” ở tất cả các làng xóm thuộc hai huyện Diễn Châu và Yên Thành.

 c, Các trận giao tranh

Nghĩa quân đã dựa vào đình chùa của các làng để dựng doanh trại. Họ chia quân canh giữ nghiêm ngặt cửa Vạn, kiểm soát chặt chẽ đường Thiên lý (Quốc lộ 1), đường từ ngã ba Diễn Châu đi Anh Sơn, đường từ Yên Lý đi Phủ Quỳ….

 Ngay sau ngày tế cờ, nghĩa quân Nguyễn Xuân Ôn đã bước vào cuộc chiến đấu quyết liệt với “Binh đoàn Trung Kỳ” của Pháp. Sau đây là một số trận chiến đấu tiêu biểu:

 - Trận phục kích từ làng Tây Khê đến Cầu Bùng do Đốc Thọ và Lãnh Thứu chỉ huy để chặn cánh quân của Mi- Nhô (Mingot).

- Trận đánh tan đội giang thuyền của Pháp ở kênh Sắt do Đề Vinh trực tiếp chỉ huy.

 - Trận chống càn ở làng Trung Phương do Đề Vinh, hiệp Trần và một số người khác chỉ huy.

- Trận đánh thắng ở Đồng Mờm do Lãnh Từ, Đốc Thọ, Đề Niên chỉ huy, có sự tham gia của Trân Quang Diệm, Đinh Nhật Tân.

 - Rồi các trận: Đồng Cửa Lộng (Diễn Xuân) Đồng Gan (Diễn Trường), Cầu Đậu ( Diễn Cát), Nhà Thánh hàng tổng ở Lý Trai (Diễn Kỷ), đình Vạn Phần (Diễn Vạn),…nghĩa quân tuy có thu được thắng lợi nhưng tổn thất cũng không ít.

 d, Những ngày tàn cục

Tháng 3-1887, sau khi gặp gỡ trao đổi với Phan Đình Phùng trên đường ra Bắc ghé tại Yên Thành, Nguyễn Xuân Ôn tổ chức trận tập kích lớn vào thành Diễn Châu, nhằm tiêu diệt trung tâm đề kháng của địch ở phía Bắc Nghệ An, và khuấy động thêm sĩ khí. Trận nội công ngoại kích thắng lợi ấy đã gây một tiếng vang lớn cho nghĩa quân. Nhưng rồi địch tăng cường lực lượng để đàn áp khủng bố, nhất là sau chiến thắng giòn giã của nghĩa quân ở Tràng Thành (Yên Thành). Trong trận xóm Hỗ thuộc xã Văn Thành (Yên Thành) hiện tại, Nguyễn Xuân Ôn bị trọng thương. Các đồng chí đưa ông về điều trị tại nhà một người bà con ở làng Báo Dương, xã Yên Mã (nay là xã Mã Thành). Ngày 25-7-1887 có kẻ phản bội, chúng đã dẫn quân Pháp đến vây bắt ông ngay trên giường bệnh.

 Pháp giải ông về đồn Yên Mã, rồi về nhà lao Diễn Châu, nhà lao Vinh, nhà lao Huế. Bất chấp mọi thủ đoạn tra tấn hay mua chuộc của kẻ thù và tay sai, trước sau ông vẫn giữ vững lòng kiên trung không khuất phục.

 Sau khi chủ tướng bị bắt, cuộc khởi nghĩa xuống dần. Phó tướng Lê Doãn Nhã kéo quân lên vùng Anh Sơn hiện tại rồi qua Lào. Trần Quang Diệm xây dựng cơ sở ở núi Gám (Yên Thành) rồi lên lèn Rỏi (Tân Kỳ). Đinh Nhật Tân bị bệnh qua đời một tháng sau ngày Nguyễn Xuân Ôn bị bắt. Một số tướng lĩnh như Bùi Xuân Phong,…ra Yên Thế gia nhập nghĩa quân Hoàng Hoa Thám. Đề Vinh, đề Niên, đề Mậu lui quân về cơ sở cũ, sau đó trở thành những bộ tướng xuất sắc trong cuộc khởi nghĩa Hương Khê. Lê Trọng Vinh được Phan Đình Phùng giao cho chỉ huy Diễn Thứ, cùng với Phan Bá Niên.

 Năm 1889, Nguyễn Xuân Ôn lâm bệnh nặng, mất tại Huế. Linh cữu ông được tổ chức đưa về an táng tại quê nhà trong niềm thương tiếc cuả nhân dân.

 Nguyễn Xuân Ôn là một người nồng nàn yêu nước, thương dân, có nghĩa khí lại đảm lược, đã mạnh dạn phất ngọn cờ Cần Vương cứu nước. Ba năm dưới sự lãnh đạo của Nguyễn Xuân Ôn, nghĩa quân các huyện Bắc sông Lam không chỉ kìm được bước chân “bình định” đầy tội ác của địch mà còn tiêu diệt được một số sinh lực đáng kể, khuấy lên một làn sóng yêu nước chống Pháp sôi nổi rầm rộ khắp các phủ huyện ở phía Bắc Nghệ Tĩnh. Trong số sĩ phu hưởng ứng chiếu Cần Vương chống Pháp, Nguyễn Xuân Ôn là một tấm gương tiêu biểu. Tinh thần chiến đấu dũng cảm, nhân cách cứng cỏi, bất khuất của Nguyễn Xuân Ôn sống mãi với Lam Hồng, với Việt Nam. Đó là niềm tự hào chính đáng của nhân dân Diễn Châu.

 Những điều đó đã được thể hiện trong một bài vè, lời lẽ mượt mà, khảng khái. Đây là một đoạn:

 Có người sơn nhạc giáng thần,

Xa xa Hồng Lĩnh, gần gần Di Sơn.

Anh tài từ thưở thiếu niên

Sắc ban tam giáp, vang miền kinh đô

Trải thờ đã kể mấy vua

Đã hơn họ Toại lại thua họ Tuỳ

Trần lời, bình tấu sự nghi

Vua đà không dựng, thần thì xin lui

Châu phê cho chiếu phản hồi

Lão thần chi nỡ phiền tài kinh luân

Tiễn đưa một chén tẩy trần

Về nhà tính đã mấy lần tinh sương

Thoắt đâu có chiếu Cần Vương

Lời lời ngọc chuốt, hàng hàng châu sa

Nghĩ mình phương diện quốc gia

Nhân dân ỷ vọng, nước nhà trọng khinh

Được thua phó mặc trời xanh

Khăng khăng báo quốc trung thành khôn lay

Đương cơn gió quạt mưa bay

Nặng lòng Lý Bật, ra tay Tề Hiền

Khen cho dạ sắt gan liền

Phất cờ Tiến sĩ, cầm quyền Tướng quân…

Bài vè còn dài, và đây là câu cuối:

                Ba thu gánh vác sơn hà

Một là báo quốc, hai là Cần Vương

                Rõ ràng nhân dân ta rất sáng suốt, rất công bằng, không lấy bại mà luận anh hùng, hễ ai “xả thân vi đại” đều là anh hùng, đều được nhân dân hâm mộ, ngợi ca, tôn sùng.

 4.       Diễn Châu với phong trào yêu nước đầu thế kỷ XX.

a, Sự tiếp thu “Tân thư” và một số hoạt động.

Cuối thế kỷ XIX, các cuộc kháng chiến chống Pháp đã bị bọn thực dân cướp nước và bè lũ phong kiến tay sai dập tắt trong máu lửa. Chính phủ “Bảo hộ”bắt tay vào “khai thác” Việt Nam, ở Nghệ Tĩnh từ 1879. Nói “khai thác” có ý nghĩa là bóc lột và vơ vét. Văn minh, khai hoá chưa thấy đâu, chỉ thấy đói khổ, nhục nhã và bần cùng. Giữa lúc đó thì “Tân thư” tràn tới. Trí thức Việt Nam thấy rõ lâu nay mình chỉ ngồi “đáy giếng”. Họ bừng tỉnh và liền hướng ra nước ngoài để tìm con đường cứu nước theo xu hướng mới.

Phan Bội Châu quê ở Nam Đàn, một ông Giải nguyên, một nhà nho thông minh, uyên bác, thức thời, đã đi vào lịch sử là người đại diện cho xu hướng cứu nước ấy: xu hướng dân chủ. Khác với nhiều sĩ phu cùng thời, ngoài việc dùng thơ văn mang hơi thở thời đại, thắm đượm tinh thần yêu nước, dạt dào ý chí chiến đấu để thức tỉnh đồng bào, cụ Phan còn chủ trương “phải đổ máu để giành tự do, giành độc lập”. Tán thành chủ trương bạo động của cụ Phan, các thủ lĩnh của dư Đảng Cần Vương như Thần Sơn Ngô Quảng, Đại Đẩu Lê Văn Quyên lâu nay lén lút hoạt động trong dân, đã nhanh chóng tập hợp thành lực lượng dưới ngọn cờ cứu nước của cụ Phan. Ngoài các hoạt động gây quỹ cho phong trào Đông Du, Ngô Quảng và Đội Quyên còn xây dựng được một căn cứ ở Bồ Lư( Anh Sơn cũ) để làm chỗ cho nghĩa sĩ đi về. Nhưng rồi Bồ Lư bị vỡ. Đội Quyên trở về Diễn Châu lấy Diễn Châu làm địa bàn hoạt động. Đội Quyên đã bắt mối với nhiều người có tâm huyết, xây dựng lại được nhiều cơ sở chống Pháp trước đây. Xưởng rèn vũ khí Nho Lân, Ngọc Lâm được nhen nhóm lại. Một số thôn xóm đã có đội nghĩa binh. Các đội nghĩa binh này có các hoạt động như quấy rối các nơi đóng quân của giặc ở Phú Linh, Đông Tháp, Ga Si…và tìm cách tiêu diệt các toán quân tuần tiễu của địch. Công việc đang tiến hành thuận lợi thì giặc vây bắt Đội Quyên tại làng Tập Phức xã Cao Ái (Diễn An bây giờ). Chúng đã bắn chết ông trên đường giải vào Vinh.

Chính Phan Bội Châu cũng đã ra Diễn Châu bắt liên lạc với những người Cần Vương cũ. Cụ Phan đến Quần Phương nhiều lần. Vân Đàm nữ sĩ, cháu gái Nguyễn Xuân Ôn đã từng làm thư ký cho Phan Bội Châu, trước khi là chủ bút của báo “Phụ nữ thời đàm”. Nhà bà Tú Ấm là nơi đặt trạm liên lạc của Hội Duy Tân. Nơi đây thường đưa người đi xuất dương.

b, Những người xuất dương du học

Bên cạnh những hoạt động vũ trang, hoạt động duy tân và xuất dương du học cũng phát triển. Nhiều xã ở Diễn Châu mở lớp truyền bá kiến thức mới, lập các hội học, hội buôn, vận động bài trừ mê tín dị đoan, giảm tế lễ linh đình, thực hiện việc cắt tóc ngắn,…nhằm mở mang dân trí, chấn hưng dân khí. Các tác phẩm của Phan Bội Châu như: “Nam dân tu tri”, “Nữ quốc dân tu tri”, “Lưu cầu huyết lệ tân thư”, “Hải ngoại huyết thư”..được nhiều người âm thầm truyền tay nhau đọc. Từ 1905 đến 1926 ở Diễn Châu có 48 thanh niên xuất dương du học hoặc hoạt động cách mạng. Trong số thanh niên Diễn Châu xuất dương hồi bấy giờ, Phùng Chí Kiên là người tiêu biểu nhất (xem phần NVDC)

c, Phong trào nông dân.

Phong trào Duy Tân, Đông Du còn kích thích nông dân chống bọn hào lý, địa chủ trong thôn xã đã phù thu lạm bổ, vơ vét công quỹ và bao chiếm công điền, công quỹ. Quá trình chống lại bọn cường hào địa chủ trong các làng xã ở Diễn Châu về các vấn đề trên là quá trình nông dân tập hợp nhau lại trong một số tổ chức nhất thời: phe hộ. Phe hộ có từ bao giờ, chưa rõ. Phe hộ gồm những người không có vai vế trong làng xã, không được đứng vào hạng quan viên chức sắc, hội đồng hào mục. Họ là những người phải nộp sưu, phải gánh vác phu phen tạp dịch. Ra đình chung, họ không được ngồi vào bàn nhất, bàn nhì, bàn ba. Nhiều nơi, một số phú hữu trong làng cũng đứng về phe hộ. Rồi cả những anh học, anh nho, anh khoá, ông đồ,…nếu không phải là con cái các quan viên, chức sắc, hào mục cũng nằm trong phe hộ. Nhiều khi phe hào mâu thuẫn với nhau, một số cũng dựa vào phe hộ để chống lại số bên kia.

Phe hộ chống phe hào bằng nhiều hình thức, song chủ yếu là dựa vào pháp lý công khai, tức đi kiện.

Trước phong trào Đông Du, Duy Tân, trong các làng xã ở Diễn Châu, nhiều nơi cũng đã lập phe hộ để chống phe hào, nhưng lẻ tẻ và không tập trung vào các mũi chủ yếu. Phong trào Đông Du, Duy Tân tuy không đặt vấn đề chống phong kiến, mang lại ruộng đất cho dân cày, song trong các bài ca “huyết lệ” của Phan Bội Châu và các sĩ phu khác nhằm thức tỉnh người dân, đều nói đến thân phận sống như trâu, ngựa bởi trăm thứ thuế nặng nề, bao nỗi cực nhục; nói đến bọn ngồi trên ăn bám, sống đài các xa hoa…rồi kêu gọi chống thuế xin sưu, hô hào cải cách hương thôn, vận động noi gương các nước văn minh tiến hoá, thúc đẩy người dân đấu tranh chống các thế lực hắc ám đang trực tiếp trói buộc, bóc lột mình. Các vụ phe hộ đấu tranh với phe hào diễn ra trong nhiều làng xã ở Diễn Châu (và trên khắp Nghệ Tĩnh) là do vậy:

- Năm 1906, ông Khả và cố đĩ Tớn ở Vạn Phần vận động nhân dân lập thành phường (phe hộ) không đi đánh cá cho chủ thuyền vì chủ thuyền đã hạ tiền công của trai, bạn.

- Năm 1910, 1915 dân làng Xuân Sơn bị hoả hoạn chạy vào làng Bình Sơn (Diễn Lợi) khai phá được 150 mẫu ruộng. Hào lý Bình Sơn chiếm lấy. Dân Xuân Sơn làm đơn kiện. Sau 12 năm mới giành lại được.

- Năm 1922, ông Nguyễn Trác ở làng Mỹ Lộc đã vận động 30 dân hộ ký đơn kiện hào lý làng Mỹ Quan đòi chia 70 mẫu ruộng đất công. Sau ba tháng kiện, chúng phải trả cho dân Mỹ Lộc 17 mẫu.

Cùng năm đó, nhân dân hai làng Ngũ Lạc và Thọ Xuân (Diễn Mỹ) làm đơn kiện Thương chánh về lệnh cấm nhân dân làm muối. Thương chánh buộc phải nhượng bộ.

- Năm 1925, Lê Thược ở làng Yên Lý đứng ra lập phe hộ để kiện bọn hào lý trong làng về tội tham nhũng. Vụ kiện không đi đến thắng lợi, song từ đó bọn hào lý không dám tham nhũng và hống hách.

                - Năm 1926, phe hộ làng Hướng Dương (Diễn Phong) tổ chức tế riêng trong dịp làng tế cầu yên. Hào lý không chịu. Hai bên đã đánh nhau rồi đưa nhau lên quan. Cuối cùng phe hộ vẫn tế riêng.

                 - Năm 1926, phe hộ làng Mai Các (Diễn Thành) kiện hào lý đòi chia công điền. Nhân dân làng Linh Kiệt (Diễn Phúc) cũng kiện hào lý đòi chia ruộng tư văn cho đồng dân.

                 - Năm 1927, dân làng Cao Hậu Đoài (Diễn Đoài) lập phe hộ để chống bọn hào lý về tội hống hách, tham nhũng. Trong các kỳ họp làng, dân hộ không đi. Bọn hào lý phải nhượng bộ.

                - V.v…

                 Từ năm 1905 đến 1929, tại Diễn Châu, qua sơ bộ tìm hiểu có 19 vụ nhân dân lập phe hộ chống phe hào. Nổi bật nhất là năm 1917, dân hộ làng Đông Phái (Diễn Hồng) kiện hào lý chiếm 92 mẫu công điền toàn loại thượng đẳng điền. Từ quan phủ, quan tỉnh, quan ở kinh đô đều ăn tiền của hào lý, xử cho hào lý được kiện. Đào Xấn, một nho sĩ đã viết tờ sớ, vạch ra ba tội của hào lý: chiếm đất, giết người, đút lót quan trên, rồi vào Huế chờ dịp Khải Định xa giá, Xấn đội tờ sớ lên đầu “quỳ yêu giá”. Khải Định xem tờ sớ, phê mấy chữ rồi sai tư về cho Tổng đốc Nghệ An là Tôn Thất Đàn. Tôn Thất Đàn bỏ qua. Khoản thứ tư trong “Thư thất điều” của Phan Chu Trinh kể tội Khải Định có nói đến việc này. Và giờ đây một bài vè hào hộ còn lưu truyền ở Đông Tháp:

 ….Hào lý cậy thế mạnh bè

Công điền chín chục định hè chiếm không

Lại thêm Tri phủ thông đồng

Đồng Rập, Lò Ngói lại hòng Cồn Mưng

Kỳ, Yên hai kẻ “Anh hùng”

Giết người đoạt lấy ruộng công sao đành

Dân ta nghĩ cũng thuận tình

Lực công, lực tụng xuất trình tỉnh quan

Nào hay tỉnh cũng làm man

Sớ “quỳ yêu giá” giữa đàng kinh đô…

( Vè Đông Tháp kiện hào lý).

                Dầu sao phe hộ vẫn là một tổ chức đấu tranh có tính chất tự phát, nhất thời của nông dân. Nhưng hình thức đấu tranh ấy đã tạo nên một truyền thống đấu tranh mang ý nghĩa giai cấp trong nông thôn Diễn Châu, nông thôn Nghệ Tĩnh. Nó giúp ta hiểu vì sao trong hai năm 1930- 1931, phong trào Xô viết do giai cấp vô sản lãnh đạo lại sôi nổi, kịch liệt và bền bỉ, dai dẳng ở nông thôn và hình như vùng nông thôn nào có phe hộ chống phe hào mãnh liệt, thì phong trào Xô viết ở đó cũng quyết liệt hơn.

 4.       Diễn Châu trong những năm từ 1926 đến 1945

a, Sự tiếp thu chủ nghĩa Mác- Lênin và phủ uỷ Diễn Châu được thành lập

Là huyện có hai người thanh niên yêu nước: Phùng Chí Kiên và Võ Mai sớm giác ngộ cách mạng được gửi đi học lớp chính trị ở Quảng Châu, dưới sự giảng dạy trực tiếp của Nguyễn Ái Quốc, nên Diễn Châu tiếp cận chủ nghĩa Mác- Lênin khá sớm. Học xong, Phùng Chí Kiên tiếp tục được học tại trường võ bị Hoàng Phổ. Trở về hoạt động ở quê nhà, Võ Mai đã cùng với Trần Văn Cung (quê ở Nghi Lộc) xây dựng được một số chi bộ Thanh niên Cách mạng đồng chí hội ( TNCMĐCH) ở Hoàng Trường, Vạn Phần, Cao Xá thuộc Diễn Châu và một số chi bộ ở các huyện Yên Thành, Quỳnh Lưu. Tổ chức TNCMĐCH ở Diễn Châu đã có những hoạt động như mở trại cày ở Trịnh Sơn (Mỹ Thành) Đồng Mưng ( Diễn Lâm), Truông Vên ( Quỳnh Châu), Eo Nghẹt ( Quỳnh Châu) nhằm xây dựng cơ sở kinh tế và làm nơi liên lạc. Rồi Hưng nghiệp hội xã được thành lập ở Ga Si; xưởng chế nước mắm ở Vạn Phần, trại nuôi lợn và trồng dâu nuôi tằm ở Phượng Lịch,….cũng ra đời. Đang hoạt động thì cơ quan kỳ bộ Trung Kỳ của TNCMĐCH bị lộ, các cán bộ từ kỳ bộ đến cơ sở hầu hết sa vào tay mật thám. Ở Diễn Châu 34 hội viên bị bắt, trong đó có 7 hội viên bị kết án tù 3 năm trở lên. Thế là tổ chức TNCMĐCH ở Diễn Châu bị tan vỡ.

Ngày 3-2-1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời. Tháng 7-1930, phủ uỷ lâm thời Diễn Châu được thành lập. Đảng viên ở Diễn Châu là các hội viên ưu tú của TNCMĐCH và Tân Việt cách mạng Đảng.

 b, Phong trào đấu tranh dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ Diễn Châu.

Vừa ra đời, Đảng bộ Diễn Châu đã phải lao vào lãnh đạo một cuộc đấu tranh rất đỗi gay go, khốc liệt nhưng cũng rất đỗi vinh quang, tự hào là phong trào 1930- 1931 mà sử thường gọi là cao trào Xô Viết Nghệ Tĩnh.

 Mở đầu cho phong trào 1930- 1931 ở Diễn Châu là hai cuộc bãi khoá của Sinh hội đỏ trường Tiểu học Diễn Châu. Cuộc thứ nhất ngày 15-4-1930, cuộc thứ hai ngày 22-9-1930. Cả hai cuộc đều phản đối chính sách ngu dân của thực dân Pháp và lệnh của Khâm sứ Trung kỳ bắt đóng cửa Trường quốc học Vinh…Tiếp theo là cuộc biểu tình của 500 nông dân hai tổng Vạn Phần và Hoàng Trường tại Yên Lý vào ngày 27-7-1930, đòi giảm sưu giảm thuế, đòi chia ruộng đất công cho người nghèo,…Cuộc biểu tình bị đàn áp, ngày hôm sau 28-7-1930, nhân dân tổng Hoàng Trường mít tinh tại Đồng Nho truy điệu đồng chí Hồ Sĩ Triềng bị chúng sát hại trong cuộc biểu tình trên. Rồi ngày 29-7-1930, nhân dân tổng Lý Trai cũng biểu tình.

 Rầm rộ, sôi nổi hơn cả là cuộc biểu tình toàn huyện ngày 7-11-1930. Hôm đó, không chỉ nhân dân tổng Hoàng Trường, Vạn Phần, Lý Trai mà cả Cao Xá, Thái Xá. Khoảng 3000 người kéo đến phủ đường Diễn Châu đưa yêu sách đòi giảm sưu, giảm thuế, đòi tịch thu lúa của nhà giàu và công điền công thổ chia cho dân nghèo, đòi bình quyền bình đẳng, rồi đòi đánh đổ đế quốc Pháp và Nam triều phong kiến, lập chính phủ công nông binh. Cuộc biểu tình bị đàn áp đẫm máu, 27 người chết tại chỗ, nhiều người bị thương.

 Dù bị đàn áp dã man, nhưng sau cuộc biểu tình, phong trào cách mạng ở Diễn Châu vẫn lên cao. Các tổ chức Nông hội đỏ, Phụ nữ giải phóng, Tự vệ đỏ, Đồng tử quân,…được củng cố và phát triển. Khắp làng xã, nhân dân liên tiếp hội họp, biểu tình và đấu tranh. Nhiều thôn xã, bọn hào lý nằm im. Nông hội đỏ đứng ra điều hành và giải quyết các công việc trong làng xã.

Hoảng sợ trước cơn bão táp cách mạng của quần chúng Nghệ Tĩnh, bọn đế quốc và phong kiến dồn toàn lực đàn áp. Bốt đồn được dựng lên, ở Diễn Châu có 14 đồn với 156 lính lê dương, lính khố xanh. Hệ thống bang tá được thiết lập. Chúng đưa những tên hung ác, tham lam ra làm tay sai. Tổ chức đoàn phu- đối lập với Tự vệ đỏ- cũng ra đời. Hội đồng đại hào mục được củng cố và được lôi kéo về phía chính quyền thực dân..vv..

Trong khi đó hạn hán gắt gao. Nắng tám tháng ròng. Mùa màng mất sạch và mùa sau cũng không trồng tỉa được. Nhiều người có nguy cơ bị chết đói.

Mặc dù Đảng bộ Diễn Châu đã có bao nhiêu biện pháp để cứu đói và giữ vững phong trào, nhưng rồi bao chiến sĩ và quần chúng cách mạng bị bắt bớ, bị chém giết bị tù đày, bao nhà bị đốt, bao cơ sở bị phá vỡ…Sau những tháng rực rỡ nhất của chính quyền cách mạng, (từ tháng 10 1930 đến tháng 3 năm 1931), phong trào lắng xuống dần. Đến tháng 9 năm 1931 thì phong trào lắng hẳn.

 c, Những ngày thoái trào.

Những năm 1932, 1933, 1934, phong trào có được nhen nhóm. Năm 1935, Diễn Châu đã phục hồi được một số cơ sở tổ chức Đảng. Những năm Mặt trận dân tộc Đông Dương ra đời và hoạt động (1936- 1939), Diễn Châu đã có một Đảng bộ với 15 chi bộ, gồm 87 đảng viên. Núp dưới danh nghĩa phường hội, các tổ chức quần chúng cách mạng của Đảng cũng ra đời và hoạt động. Đó là các phương tương tế ái hữu như phường hộ sản, phường lợp nhà, phường dệt vải, phường xe cút kít, hội bóng đá, hội truyền bá quốc ngữ, hội đọc sách báo,….Thời gian này ở Diễn Châu đã lưu hành các báo Tin tức, Nhành lúa, Tập hợp…Đảng bộ Diễn Châu đã thông qua các tổ chức hợp pháp ấy để tập hợp quần chúng và phát động nhân dân đấu tranh. Riêng năm 1938 ở Diễn Châu đã nổ ra 11 cuộc đấu tranh: chống ăn cắp của công, đòi kiểm soát việc chi tiêu của lý hào, chống bắt lính bắt phu, chống bắt rượu bắt muối, chống chủ thuyền bóc lột quá nặng….

Đầu năm 1939, bóng đen của nguy cơ chiến tranh thế giới đè nặng trên đầu nhân loại. Lấy cớ phòng thủ Đông Dương, bọn phản động thuộc địa thực hiện chính sách bắt bớ và đàn áp. Những chiến sĩ cách mạng đi tù về, dù có hoạt động hay không hoạt động, chúng cũng bắt giam và đi đày. Lực lượng cách mạng và tiến bộ bị khủng bố, các tổ chức trá hình của cách mạng bị cấm hoạt động. Ngày 1-9- 1939, đại chiến thế giới thứ hai bùng nổ. Chúng thẳng tay đàn áp cách mạng hơn nưa. Thế là bao tổ chức cách mạng ở Diễn Châu bị tan vỡ.

d, Phong trào Việt Minh.

Được Nghị quyết của Trung ương tháng 11 năm 1939 soi sáng, sang năm 1940, một số cơ sở đã được khôi phục. Nên dù các cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn, Đô Lương, Nam Kỳ có bị bọn chúng khủng bố tàn sát dữ dội, dã man, khốc liệt thì tình thế cách mạng vẫn đang đến gần. Các chíên sĩ cách mạng vẫn âm thầm hoạt động. Khi Việt Minh ra đời thì phong trào cứu nước lan toả khắp Diễn Châu. Chỉ một thời gian ngắn (hai tháng cuối năm 1944) tại Diễn Châu, 38 thôn xã đã có tổ chức Việt Minh. Tháng 1- 1945, tổ chức Việt Minh của huyện ra đời tại Phượng Lịch (Diễn Hoa). Đêm 9-3-1945, Nhật làm đảo chính hất cẳng Pháp. Nhân cơ hội đó, bao chiến sĩ cách mạng phá nhà tù trở về quê hương hoạt động.

Lúc này Hồng quân Liên Xô đang thắng lợi dồn dập ở mặt trận phía Tây. Ngày 15 tháng 8 năm 1945, phát xít Đức đầu hàng vô điều kiện. Liền sau đó, Hồng quân Liên Xô tiến công như vũ bão sang Mãn Châu tiêu diệt đạo quân Quan Đông gồm hơn 75 vạn quân tinh nhuệ của Nhật. Mỹ vội vã thả hai quả bom nguyên tử xuống thành phố Hirôsima và Nagasaki, phát xít Nhật cũng đầu hàng vô điều kiện; Tình thế cách mạng đến như cuốn gió. Đảng phát động toàn dân đứng dậy tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Ngày 19-8-1945, Hà Nội vùng dậy khởi nghĩa. Ngày 21-8-1945 nghe theo lệnh Việt Minh, cả 5 tổng ở Diễn Châu đã rầm rập xuống đường kéo đến phủ đường đòi tri phủ phải đầu hàng, Tri phủ Lê Xuân Tích cùng toàn bộ nha lại run sợ liền mang thẻ bài, đồng triện cùng sổ sách, khí giới nộp cho cách mạng. Trước giờ phút trọng đại của lịch sử, nhiều người dân ở Diễn Châu được chứng kiển lá cờ đỏ sao vàng hiên ngang kéo lên sau khi là cờ quẻ ly màu vàng quạch bị hạ xuống, chấm dứt những năm Pháp thuộc, chấm dứt chế độ Nam triều phong kiến. Uỷ ban cách mạng do cụ Lê Nhu làm Chủ tịch ra mắt nhân dân. Người người mừng vui, nhà nhà mừng vui trước một kỷ nguyên mới của dân tộc. Có được thắng lợi thần kỳ ấy, bao xương máu của nhân dân, của các chiến sĩ đã đổ ra, bao người bị tù đày. Tại Diễn Châu, trong thời gian từ 1926 đến 1945, chúng ta phải kể ba người tiêu biểu là Phùng Chí Kiên, Võ Nguyên Hiến, Võ Mai.

 Họ đều có lòng yêu nước sâu sắc giác ngộ cách mạng rất sớm, hoạt động, chiến đấu dũng cảm.

                                                 (Theo Sách Diễn Châu 1380 Lịch sử - Văn hóa - Nhân vật)

 

 |  Đầu trang
<<   <  1  2  >  >>
 
 
 
Văn bản chỉ đạo điều hành
Skip portletPortlet Menu
 
 
 
 
thư viện ảnh
Skip portletPortlet Menu